Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH T

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày 24/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thư

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thuý Hà và ông Vương Minh Tân

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố T và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T1 xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS, ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lưu Xuân D; giới tính: Nam; sinh ngày 20/8/1982; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường H, thành phố T, tỉnh T; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ trước khi phạm tội: Không; họ tên bố: Lưu Văn B, sinh năm 1957; họ tên mẹ: Phan Thị T, sinh năm 1959; anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; vợ: Trần Thị Kim D1, sinh năm 1980; con: Có 04 con, con nhỏ sinh năm 2015, con lớn sinh năm 2003.

* Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân:

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 396/QĐ-XPVPHC ngày 27/12/2018 của Công an thành phố T1, phạt tiền đối với Lưu Xuân D về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • * Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa, tại điểm cầu T tạm giam Công an tỉnh T1).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, Lưu Xuân D, trú tại tổ dân phố G, phường H, thành phố T, tỉnh T một mình đi xe ôm (không xác định được

2

biển số, người lái xe) từ nhà đến khu vực gần đền C thuộc phường M, thành phố T, mục đích tìm mua ma túy (Heroine) để sử dụng. Tại đây, D gặp và hỏi mua được của một người đàn ông (theo D khai tên H, không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ) 03 gói Heroine với giá 500.000 đồng, H cầm tiền rồi bảo D đứng chờ để nhận ma túy. H đi khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho D 03 gói nhỏ Heroine đều bọc ngoài bằng giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. D cất 03 gói Heroine vừa mua được trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ đến khu vực gần sân thể thao Hồ N tìm chỗ vắng người, lấy 01 gói Heroine ra sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Sử dụng xong, D đi bộ tìm xe ôm để về nhà, khi đi đến khu vực tổ dân phố A, phường M, thành phố T thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T1 phát hiện, yêu cầu kiểm tra, D đã tự giác giao nộp 02 gói Heroine còn lại đang cất giấu trong người. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D vào hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày; thu giữ, niêm phong vật chứng và tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể D, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.

Bản Kết luận giám định số 1424/KL-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T1, kết luận: Mẫu vật (thu giữ của Lưu Xuân D) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H); khối lượng 0,196g (Không phẩy một chín sáu gam).

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Lưu Xuân D, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T1, bên trong có chứa 0,146 gam Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định).

Tại Cơ quan điều tra, Lưu Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSTP ngày 23 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh T đã truy tố bị cáo Lưu Xuân D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lưu Xuân D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Xuân D từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/10/2024. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; xử lý vật chứng (tịch thu, tiêu hủy số Heroin còn lại sau giám định). Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo Lưu Xuân D theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh T1; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

3

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Xuân D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh T, Lưu Xuân D, trú tại tổ dân phố G, phường H, thành phố T, tỉnh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,196g (Không phẩy một chín sáu gam) ma tuý, mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Xuân D có nhân thân xấu đã từng bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục vi phạm. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

4

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Lưu Xuân D, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T1, bên trong có chứa 0,146 gam Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) đã thu giữ của bị cáo được niêm phong theo quy định là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 20/10/2024 của Lưu Xuân D, ngày 31/10/2024, Công an thành phố T1 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 002185/QĐ-XPHC, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

[8]. Đối với người đàn ông theo D khai tên H đã bán Heroine vào ngày 20/10/2024 tại khu vực phường M, thành phố T cho D, do không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    • - Tuyên bố: Bị cáo Lưu Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Lưu Xuân D 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/10/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 0,146 gam Heroin (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký của Lưu Xuân D, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T
    • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T1 và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T ngày 17/2/2025).
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    • - Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Xuân D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Xuân D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T;
  • - VKSND tỉnh T;
  • - Công an tỉnh T;
  • - Sở Tư pháp tỉnh T;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Công an TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

6

Hà Hữu Bình - Trần Thế Dũng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Kim Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH T về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH T
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger