|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/ HS-ST Ngày 24 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Hoa Hường và ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Khánh H (H1), sinh năm 1984; tại quận T, thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố G, phường E, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn L và bà Nguyễn Thị H2; có vợ Lê Thị Kim T (đã ly hôn); con có 04 người; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/5/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Luật sư bào chữa cho bị cáo:
- - Ông Lê Hùng T1, sinh năm 1981 – Văn phòng L1 – chi nhánh A; địa chỉ: khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.
- - Bà Phạm Thị M, sinh năm 1972 – Công ty L2; địa chỉ: B CC G N, phường M, quận H, thành phố Hà Nội.
- - Bà Đào Thị N, sinh năm 1972 – Công ty L2; địa chỉ: Đ, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Bị hại: Bà Mai Xuân P, sinh năm 1969; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1987; nơi cư trú: số G, B, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1957; nơi cư trú: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Người làm chứng: Lê Ngọc Ẩ, sinh năm 1994; Nguyễn Thị B1, sinh năm 1985; Huỳnh Văn N1, sinh năm 1981; Nguyễn Phùng T2, sinh năm 1984; Cao Đình Minh D, sinh năm 1981.
(Bị cáo có mặt, luật sư bào chữa cho bị cáo có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H2 có mặt; ông Nguyễn Thanh B và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2019, Nguyễn Khánh H làm thuê cho Doanh nghiệp tư nhân P1 do Mai Xuân P la chủ doanh nghiệp. Ngày 06/11/2022, tài xế Huỳnh Văn N1 điều khiển xe ô tô thuê cho doanh nghiệp gây tai nạn giao thông tại tỉnh Long An, hậu quả làm chết người; P giao H liên hệ giải quyết vụ việc. Ngày 06/11/2022, H yêu cầu P chuyển 30.000.000 đồng để H hỗ trợ mai táng nạn nhân đã thực hiện xong; ngày 21/11/2022, P tiếp tục chuyển cho H 150.000.000 đồng hỗ trợ bồi thường cho gia đình nạn nhân, tuy nhiên H sử dụng số tiền này vào việc khác, không thông báo cho P biết. Ngày 22/12/2022, H điện thoại cho P hỏi lấy xe ô tô biển số 67A - 002.75 để đi giải quyết vụ tai nạn giao thông nói trên, P đồng ý, kêu Nguyễn Thị B1 (người giúp việc nhà cho P) đến nhà P tại tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, lấy chìa khóa xe giao cho H. Nhận xe, H nhờ Lê Ngọc Ẩ giới thiệu, H điều khiển xe đến cầm cho Nguyễn Thanh B lấy 150.000.000 đồng, dùng bồi thường cho gia đình nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông nói trên nhưng không thông báo, không được sự đồng ý của P. Sau đó, P nhiều lần hỏi về xe ô tô trên, H nói dối xe đang gửi đi sửa. Khoảng tháng 4/2023, thấy B điều khiển xe ô tô biển số 67A - 002.75 của P thì P mới biết H cầm xe ô tô này cho B nên P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C trình báo sự việc
Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, loại Sonata, màu sơn đỏ, biển số 67A - 002.75 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, đã trả lại cho bị hại Mai Xuân P.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 52/KL-ĐG ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, loại Sonata, màu sơn đỏ, biển số 67A - 002.75, giá trị 400.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSCĐ-HS ngày 07/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Nguyễn Khánh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Khánh H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 (mẹ ruột của bị cáo) không ý kiến hay yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh H từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, không xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự. Về xử lý vật chứng, xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Sonata, màu sơn đỏ, biển số 67A - 002.75, đã trả lại cho bị hại Mai Xuân P nên không đề cập; về án phí và quyền kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo luật sư Lê Hùng T1: thống nhất về tội danh truy tố của Viện kiểm sát; yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo thành khẩn nhận tội và hiện bị cáo đang bị bệnh.
Người bào chữa cho bị cáo luật sư Phạm Thị M: thống nhất về tội danh truy tố của Viện kiểm sát; yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 02 năm đến 02 sáu tháng năm tù do tính chất nguy hiểm của vụ án không còn, khác phục hoàn toàn hậu quả.
Người bào chữa cho bị cáo luật sư Đào Thị N: thống nhất về tội danh truy tố của Viện kiểm sát; yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại kết luận định giá tài sản và ý định của bị cáo chỉ chiếm đoạt tài sản là 150.000.000 đồng chứ không phải là giá trị xe oto giá trị 67A - 002.75 là 400.000.000 đồng; đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để thể hiện được tính nhân văn và sự khoan hồng của pháp luật vì tính chất vụ án không còn nguy hiểm cho xã hội, hậu quả đã được khắc phục hoàn toàn.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận;
Đại diện viên kiểm sát tranh luận đối đáp với lời bào chữa của luật sư Đào Thị N: Việc định giá tài sản được đảm bảo đúng theo thủ tụng tố tụng hình sự và tài sản bị cáo chiếm đoạt là xe 67A - 002.75 giá trị là 400.000.000 đồng, chứ không phải chiếm đọat số tiền cầm xe là 150.000.000 đồng; do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên đề nghị xem xét áp dụng thêm tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS là có căn cứ.
Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 (mẹ ruột của H) không yêu cầu gì đối với số tiền 180.000.000 đồng đã khắc phục hậu quả cho H, bị hại Mai Xuân P, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, bị cáo Hiệp đồng Ý xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng khác; quá trình điều tra bị hại P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận; do quen biết nên bị cáo làm thuê cho doanh nghiệp P1 do được bà Mai Xuân P là chủ doanh nghiệp, không ký kết hợp đồng lao động; bà P thường giao xe ô tô biển số 67A - 002.75 quản lý sử dụng để thực hiện những việc của doanh nghiệp; do cần khoản tiền để bù vào số tiền chi trả cho hậu quả tai nạn giao thông do tài xế của doanh nghiệp mà bà P đã chuyển trước đó nên bị cáo đã cầm cố chiếc xe nêu trên khắc phục hậu quả vụ tai nạn giao thông và bị cáo đã khắc phục xong; về việc định giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là xe ôtô số 67A - 002.75 đã được thực hiện đúng theo các quy định về định giá tài sản trong tố tụng hình sự, mặc khác khi bị cáo H nhận kết luận định giá số 52/KL-ĐG ngày 16 tháng 01 năm 2024 bị cáo Hiệp đồng Ý và không có ý kiến gì (Bút lục: 29, 31); về ý định chiếm đoạt của bị cáo, bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là tội xâm phạm quyền sở hữu thì tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối và xác định giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt làm căn cứ định khung hình phạt đối với bị cáo chứ không căn cứ vào ý định của bị cáo là chỉ chiếm đoạt 150.000.000 đồng như lời bào chữa cho bị cáo; lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp toàn bộ quá trình diễn biến sự việc và hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố là phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu; do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Nguyễn Khánh H đã có hành vi lợi dụng việc Mai Xuân P giao xe ô tô biển số 67A - 002.75, trị giá 400.000.000 đồng để đi xử lý việc cho doanh nghiệp, xong H chiếm đoạt xe ô tô nói trên.
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự bị cáo lợi dụng sự tin tưởng của chủ tài sản đã tự ý chiếm đoạt và cầm cố xe ôtô biển số 67A - 002.75 không thông qua ý kiến của bị hại.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Khánh H đã phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quá trình điều tra bị cáo đưa ra nhiều lý do nhằm né tránh trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; một phần do bị cáo chủ quan vào sự thân thiện và lòng tin cậy của chủ tài sản mà thực hiện hành vi dẫn đến việc phạm tội; sau khi phạm tội bị cáo cũng đã khắc phục toàn bộ hậu quả của hành vi phạm; bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ cho bị cáo; tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội không còn; do đó, cần xem xét có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc thành phần lao động, có phần nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo cũng đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại Mai Xuân P xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặc khác, bị cáo hiện có 4 người con (03 con còn nhỏ hiện đang đi học); bị cáo đang mang các chứng bệnh “Đái tháo đường..,viêm tụy cấp thể hoại tử” (bl: 143-147); tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để tạo điều kiện cho bị cáo tự nguyện cải tạo sớm trở về, tái hòa nhập cộng đồng, giúp ích ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, xét bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Mai Xuân P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh B đã nhận lại toàn bộ số tiền bị thiệt hai do gia đình bị cáo bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Sonata, màu sơn đỏ, biển số 67A - 002.75 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, đã trả lại cho bị hại Mai Xuân P, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thanh B khi nhận cầm xe ô tô từ H hoàn toàn không biết đây là tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B là có căn cứ.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh H 03 năm 03 tháng tù (ba năm, ba tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/5/2024).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Ngọc Phượng |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh H 03 năm 03 tháng tù (ba năm, ba tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/5/2024).
