Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-02-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Tuyên

2. Ông Nguyễn Ngọc Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đăng H, Sinh năm: 1988; Địa chỉ: SN F ngõ D đường A, thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)

Bị đơn: Chị Lê Thị L, Sinh năm 1994; Địa chỉ: SN I đường N, phố Q, phường L, TP., tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Đăng H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Liên kết H1 trên cơ sở tự nguyện qua thời gian tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 10/10/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng gia đình chồng tại Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi và xúc phạm nhau, có lần còn xảy ra xô xát, đánh nhau, đỉnh điểm mâu thuẫn vào tháng 5 năm 2024 chị L về nhà ngoại sinh sống, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng hai bên gia đình nội ngoại để vợ chồng tự quyết định không hòa giải. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị L.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung và hiện tại chị L không có thai nên anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị Lê Thị L. Chị L đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và không có ý kiến gì. Chị L không đến Tòa án để tự khai cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

Ngày 20/11/2024 ông Lê Văn N là bố đẻ của chị Lê Thị L cung cấp đơn đề nghị tạm hoãn thủ tục ly hôn của chị Lê Thị L với lý do chị Lê Thị L đang điều trị bệnh. Tòa án đã yêu cầu ông Lê Văn N cung cấp các giấy tờ liên quan đến việc chị Lê Thị L đang điều trị bệnh nhưng ông Lê Văn N không cung cấp. Mặt khác, ngày 25/11/2024 anh Nguyễn Đăng H có đơn đề nghị về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và hình ảnh, nơi làm việc hiện nay của chị L tại C, xưởng A, Công ty G, địa chỉ tại khu công nghiệp H, phường T, TP., tỉnh Thanh Hóa

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ do địa phương cung cấp thể hiện: Anh Nguyễn Đăng H và chị Lê Thị Liên kết H1 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn thì giữa anh chị có xảy ra mâu thuẫn nên chị L đã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì chính quyền địa phương không nắm bắt được vì anh chị không thể hiện ra bên ngoài. Nay anh chị giải quyết ly hôn, quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị về đoàn tụ, trường hợp anh H cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết. Về con chung: anh, chị chưa có con chung. Về tài sản, công nợ: chính quyền địa phương không biết anh chị có tài sản và công nợ gì. Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án xử cho ly hôn với bị đơn, về con chung, tài sản và công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa ngày 23/01/2025 đã hoãn phiên tòa làn thứ 1 do bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trình bày ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.

Về việc giải quyết vụ án: Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Đ a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về hôn nhân: Chấp nhận đề nghị của anh Nguyễn Đăng H xin ly hôn chị Lê Thị L.

Về con chung: Anh chị chưa có con chung và hiện tại chị L không có thai nên không xem xét.

Về tài sản và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Đăng H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn anh Nguyễn Đăng H và bị đơn chị Lê Thị L là Tranh chấp về Ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lê Thị L đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt nhiều lần không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; 228 BLTTDS để giải quyết vắng mặt chị Lê Thị L là phù hợp quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

* Về hôn nhân:

Anh Nguyễn Đăng H và chị Lê Thị Liên kết H1 với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình anh chị chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vả, xô xát, đến tháng 5 năm 2024 thì chị L về nhà mẹ đẻ sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao thông báo về việc thụ lý vụ án cho chị L, sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, chị L không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành phiên hòa giải được. Điều đó chứng tỏ chị L không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ. Việc anh H trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và thực trạng hôn nhân phù hợp với xác minh tình trạng hôn nhân của anh chị tại địa phương. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho anh H được ly hôn chị L là phù hợp.

* Về con:

Anh, chị chưa có con chung và hiện tại chị L không yêu có thai nên HĐXX không xem xét.

* Về tài sản:

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

* Về công nợ:

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 51; 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278; 280 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đăng H.

  1. Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Đăng H được ly hôn chị Lê Thị L.
  2. Về con chung: Anh, chị chưa có con chung và hiện tại chị L không yêu có thai nên HĐXX không xem xét.
  3. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số BLTU/24/0001776 ngày 18/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Anh H đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger