|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 18/2025/HNGĐ - ST Ngày 19 tháng 2 năm 2025 V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương
* Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Biên.
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
* Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
* Đại diện VKSND thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 1 năm 2025 (Số thụ lý cũ của TAND huyện Yên Dũng: 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024) về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20/1/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/2/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1954 (Có mặt)
Cư trú: Số nhà A, tổ dân phố D, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1961 (Vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Số nhà A, tổ dân phố D, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Trú tại: Thôn B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 24/9/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Quang C trình bày:
Ông và bà Trần Thị L kết hôn ngày 30/12/1983, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng ông được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, ông và bà L về chung sống với nhau tại gia đình ông. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 02/2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, hay cãi nhau, bà L ngoại tình. Vợ chồng ông đã ly thân từ ngày 02/2018 đến nay. Nay ông xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông yêu cầu Toà án nhân dân huyện Yên Dũng giải quyết cho ông được ly hôn bà Trần Thị L.
Về con chung: Ông và bà L có 02 con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 26/11/1984, Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/8/1990. Hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bà Trần Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà L không có mặt để làm việc với Tòa án về những vấn đề liên quan vụ án mà bà L là bị đơn. Tại phiên tòa, bà Trần Thị L vắng mặt.
* Tại biên bản làm việc ngày 07/11/2024, ông Ong Xuân L1 – Tổ trưởng tổ dân phố D, phường N, thành phố B cho biết: Ông Nguyễn Quang C và bà Trần Thị L là công dân trước đây cư trú tại: Số nhà A tổ dân phố D, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Ông Nguyễn Quang C và bà Trần Thị L kết hôn năm nào không rõ. Khoảng tháng 7 hoặc tháng 8/2024 ông C, bà L phát sinh mâu thuẫn và bà L không còn ở địa phương.
* Tại biên bản xác minh ngày 04/12/2024, ông Nguyễn Văn T1 – Là Trưởng thôn Bến, xã Đ, thành phố B cho biết: Toà án đã đến nhà bà Trần Thị L ở: thôn B, xã Đ, thành phố B để tống đạt các giấy triệu tập, Quyết định cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng bà L không nhận. Toà án đã thông qua nội dung văn bản tố tụng cần tống đạt và lập biên bản làm việc.
Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, tài sản, công nợ, án phí nhưng ông C, bà L đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có văn bản giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết vụ án, không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.
Sau phần trông luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chưa đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt không chấp hành.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quang C được ly hôn bà Trần Thị L.
- - Về án phí: Ông Nguyễn Quang C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt, niêm yết và triệu tập hợp lệ lần 2 đối với bà Trần Thị L nhưng vắng mặt. Nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 129/2024/QĐ-CCTLCC ngày 13/11/2024 về việc yêu cầu bà L cung cấp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung, công nợ, liên quan đến tranh chấp hôn nhân và gia đình, bản tự khai trình bày quan điểm về: quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, công nợ và liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án cho bà Trần Thị L nhưng bà Trần Thị L không có mặt để làm việc với Tòa án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên phải chịu hậu quả pháp lý.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa ông Nguyễn Quang C và bà Trần Thị L xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, ông, bà có thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, Vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Ông C thấy không thể duy trì hôn nhân với bà L, là quyền của ông C được xin ly hôn. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa ông C, Bà L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho ông Nguyễn Quang C được ly hôn bà Trần Thị L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Ông Nguyễn Quang C và bà Trần Thị L có 02 con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 26/11/1984, Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/8/1990. Hiện hai con đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung. Nên không đặt ra xem xét.
- [4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Ông Nguyễn Quang C và bà Trần Thị L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Quang C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quang C được ly hôn bà Trần Thị L.
- Về con chung: Ông Nguyễn Quang C và bà Trần Thị L có 02 con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 26/11/1984, Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/8/1990. Hiện hai con đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung. Nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Quang C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 18/2025/HNGĐ - ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Quang C xin ly hôn bà Trần Thị L
