|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 19 – 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Ngọc Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Dương, Ông Lê Bỉnh Quyền
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
- Lê Bá T, sinh ngày 13/6/1994 tại: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Bá B (đã chết) và bà Lê Thị T1; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2024 đến ngày 10/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện tại đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, có mặt tại phiên tòa.
- Trần Văn T2, sinh ngày 10/10/1991 tại: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Có vợ là Dương Thị H1 và có 02 con: Lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2024 đến ngày 10/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện tại đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân Đ – sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 04/10/2024, Trần Văn T2 đến nhà Lê Bá T chơi, T rủ T2 đi mua ma túy và hứa cho sử dụng cùng, T2 đồng ý. T2 điều khiển xe máy hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen, gắn biển kiểm soát 36B4. 792.20 chở T đi đến khu vực cầu T thuộc huyện H, gặp 01 nam thanh niên mặc áo chống nắng trùm đầu, đeo khẩu trang đang đứng, T xuống xe hỏi mua 600.000đ ma túy, người này đồng ý. Sau khi cầm tiền của T, người này đưa cho T 06 (sáu) gói giấy bạc bên trong chứa ma túy. T cất giấu ma túy vào túi quần bên phải và ngồi lên xe máy để T2 chở quay về. Đến khoảng 13 giờ 45 phút, khi T và T2 đi đến khu vực bến đò thuộc thôn G, xã H, huyện H thì bị Tổ tuần tra công an huyện H phối hợp với Công an xã H phát hiện và bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải của Lê Bá T 06 gói giấy bạc bên trong lớp giấy bạc là mảnh giấy học sinh có dòng kẻ ô ly, kích thước khoảng (2 x 3)cm, trong cùng có chứa các cục bột màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen, gắn biển kiểm soát 36B4.792.20, xe đã qua sử dụng.
Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Lê Bá T ở thôn Q, xã H và Trần Văn T2 ở thôn L, xã H nhưng không thu giữ được gì.
Tại Bản kết luận giám định số 3694/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: các cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,285 gam, loại: Heroine.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 36B4-792.20, số khung 3220EY070415, số máy JA32E0070411, xe có đăng ký mang tên Đào Đức M, sinh năm 1991, trú tại phường Đ, thành phố T. Tháng 08/2024, anh M đã bán chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1960, ở thôn L, xã H, H, Thanh Hóa (mẹ đẻ của Trần Văn T2). Việc T2 sử dụng xe máy của bà H2 để đi mua ma túy, bà H2 không biết nên không có căn cứ để xử lý. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe máy nêu trên cho bà H2 theo quy định pháp luật.
Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.
Đối với người bán ma túy cho Lê Bá T và Trần Văn T2 ở khu vực Cầu T thuộc huyện H, do T và T3 không biết rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H không xác định được người đó là ai để xử lý.
Cáo trạng số 25/CTr-VKSHH ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố các bị cáo Lê Bá T và Trần Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo Lê Bá T, Trần Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lê Bá T từ 27 tháng đến 30 tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Văn T2 từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Đề nghị buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không tranh luận gì.Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và tội danh: Lê Bá T và Trần Văn T2 bị phát hiện và bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 1,285 gam ma túy (loại Heroine) nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự . Hành vi của các bị cáo thể hiện rõ sự coi thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tính chất đồng phạm:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tính chất đồng phạm: Lê Bá T và Trần Văn T2 là đồng phạm trong việc thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, sự đồng phạm của các bị cáo không thuộc trường hợp “phạm tội có tổ chức” mà là đồng phạm giản đơn. Vai trò, vị trí thứ nhất là Lê Bá T, vì T là người khởi xướng, rủ Trần Văn T2 đi mua ma túy về sử dụng. Trần Văn T2 giúp sức tích cực cùng với T thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù Trần Văn T2 chỉ là người giúp sức nhưng bị cáo có nhân thân từng 02 lần phạm tội về ma túy mà không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội, biết bị cáo T đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo còn tích cực cùng bị cáo T “tàng trữ trái phép chất ma túy” thể hiện sự coi thường pháp luật và bản chất khó cải tạo của bị cáo. Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo mà cần lên một mức án cao hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo T2, đồng thời cũng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng:
Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5]. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Bá T và Trần Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử:
Phạt bị cáo Lê Bá T 30 (ba mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 04/10/2024).
Phạt bị cáo Trần Văn T2 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 04/10/2024).
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 26/BBGN ngày 07/02/2025.
Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Bá T, Trần Văn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Vân |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Bá Tình và đồng phạm bị truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
