|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/DS-ST
Ngày 18 - 02 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nông
Ông Đoàn Nam Lê Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 715/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Bá T, sinh năm 1993; thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Số A, đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Hoàng Phương T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có đơn xin vắng mặt.
- Ông Lê Đại T2, sinh năm 1989; địa chỉ: Số H L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hà Huy C, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1979; cùng thường trú: Số A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 9 năm 2024, đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 17/02/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày.
Ông Phan Bá T có trao đổi, thỏa thuận với ông Hà Huy C và vợ là bà Nguyễn Thị K về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 68 m² thuộc một phần thửa đất số 1569, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do ông C và bà K đứng tên. Do là chỗ quen biết và tin tưởng nhau nên khi thỏa thuận ông T chỉ xem qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không yêu cầu vợ chồng ông T cung cấp cho mình bản phô tô hay bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các bên thỏa thuận giá trị chuyển nhượng là 900.000.000 đồng.
Ngày 23/11/2020, sau khi bàn bạc, các bên thống nhất ký kết Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất. Hợp đồng thể hiện rõ phần đất tranh chấp như đã trình bày ở trên. Về đặt cọc và thanh toán số tiền chuyển nhượng các bên thỏa thuận như sau:
- Đợt 1: Ngày 23/11/2020 (cũng là ngày ký hợp đồng) ông T đặt cọc cho ông C, bà K số tiền 100.000.000 đồng.
- Đợt 2: ngày 13/12/2020, ông T đặt cọc cho ông C, bà K số tiền 600.000.000 đồng.
- Đợt 3: Trong vòng 70 ngày kể từ ngày 23/11/2020, hai bên sẽ ra văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng thời ông T có nghĩa vụ phải thanh toán cho vợ chồng ông C số tiền 200.000.000 đồng còn lại.
Hợp đồng còn quy định rõ: Nếu bị đơn không cung cấp giấy tờ về thửa đất hoặc đất bị tranh chấp hoặc đổi ý không bán nữa thì bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn. Nếu nguyên đơn không đúng hẹn thanh toán thì nguyên đơn sẽ chịu mất toàn bộ tiền đã cọc cho bị đơn. Nếu đất bị quy hoạch thì bị đơn phải trả lại tiền cọc cho nguyên đơn.
Tuy nhiên khi ký hợp đồng này thì chỉ có ông T và bà Nguyễn Thị K ký tên, có bà Nguyễn Thị P ký tên người làm chứng.
Để đảm bảo tính pháp lý và có cả ông C cùng ký tên nên ngày 07/12/2020, ông T và vợ chồng ông C cùng tiếp tục ký kết một Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (sau đây gọi là “Hợp đồng đặt cọc ngày 07/12/2020”). Trong hợp đồng đặt cọc ngày 07/12/2020 thì đối tượng của hợp đồng vẫn là thửa đất thuộc tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do bị đơn đứng tên nhưng do lỗi đánh máy nên ghi sai số thửa. Số thửa chính xác là 1569 như Hợp đồng đặt cọc 23/11/2020 thể hiện. Về phương thức thanh toán và đặt cọc hợp đồng quy định:
- Đợt 1: Ngày 23/11/2020 ông T đã đặt cọc cho ông C, bà K số tiền 100.000.000 đồng.
3
- Đợt 2: Ngày 12/12/2020, ông T đặt cọc thêm cho ông C, bà K số tiền 500.000.000 đồng.
- Đợt 3: Ngày 03/3/2021, hai bên sẽ ra văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng thời ông T có nghĩa vụ phải thanh toán cho vợ chồng ông C số tiền 300.000.000 đồng.
Như vậy giá chuyển nhượng các bên thỏa thuận không thay đổi, về thời gian đặt cọc, thanh toán cùng với số tiền có khác so với hợp đồng ban đầu.
Thực hiện hợp đồng nói trên, ông T đã tiến hành đặt cọc cho vợ chồng ông C số tiền 600.000.000 đồng vào hai đợt: ngày 23/11/2020 và 12/12/2020; khoản tiền 300.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán vào ngày 03/03/2021 – chính là lúc các bên thực hiện việc chuyển nhượng sang tên tại văn phòng công chứng.
Thời điểm các bên thỏa thuận về việc mua bán đất, vợ chồng ông C cho biết đây là thửa đất lớn, bị đơn đã và đang thực hiện thủ tục tách thửa đối với thửa đất trên và chuyển nhượng lại cho ông T. Bị đơn cam kết sẽ tách thửa được và thực hiện chuyển nhượng 68 m² diện tích thửa đất như thỏa thuận. Tuy nhiên, quá thời hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc 07/12/2020, bị đơn vẫn không thực hiện chuyển nhượng thửa đất như thỏa thuận. Trong suốt thời gian đó, bị đơn dùng nhiều lý do để kéo dài, biện minh cho việc không thực hiện đúng như cam kết trong Hợp đồng. Ông T đã nhiều lần đề nghị bị đơn hoàn trả lại tiền cọc và tiền bồi thường hợp đồng như những gì cả hai đã cam kết tuy nhiên bị đơn không hoàn trả tiền cọc cũng như im lặng, có thái độ lẩn tránh, trốn tránh trách nhiệm.
Đến ngày 03/6/2024, xác định việc tách thửa chuyển nhượng nói trên không thực hiện được nên ông T và vợ chồng ông C cùng nhau thỏa thuận chấm dứt thực hiện hợp đồng đối với các hợp đồng đã ký nói trên và vợ chồng ông C có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền cọc đã nhận. Cụ thể ông C có ký Giấy hẹn trả tiền cọc cho tôi số tiền 600.000.000 đồng vào ngày 13/7/2024, tuy nhiên đến nay bị đơn cũng không hoàn trả tiền đặt cọc 600.000.000 đồng như giấy hẹn. Giấy hẹn này là cơ sở chứng minh việc bị đơn có nhận đủ của tôi số tiền cọc 600.000.000 đồng. Đến nay thời gian cũng đã lâu kể từ ngày các bên thỏa thuận chuyển nhượng và sau đó là thỏa thuận chấm dứt hợp đồng nhưng vợ chồng ông C vẫn không trả tiền lại cho ông T.
Nay ông T yêu cầu vợ chồng ông C và bà K có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền cọc đã nhận là 600.000.000 đồng.
- Đối với bị đơn ông Hà Huy C và bà Nguyễn Thị K:
Quá trình tố tụng bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bị đơn không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.
- Tại bản tự khai ngày 06/12/2024, người làm chứng bà Nguyễn Thị Phương trình B:
4
Bà P là chị vợ của ông Phan Bá T. Phần đất mà ông T muốn nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông C và bà K là phần đất nằm gần nơi bà P đang cư trú. Sau khi bàn bạc, thống nhất, ông C và ông T đi đến quyết định ông T nhận chuyển nhượng một phần thửa đất này do vợ chồng ông C đứng tên. Thời điểm đó, vợ chồng ông C có đưa cho ông T xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chứng minh quyền sử dụng tuy nhiên vì tin tưởng nên ông T không sao chụp lại Giấy chứng nhận. Ngày 23/11/2020, bị đơn là bà K gặp mặt ông T để ký Hợp đồng đặt cọc và tiến hành đặt cọc 100.000.000 đồng cho bà K. Lúc đó có mặt nguyên đơn, bị đơn bà K (bị đơn ông C không có mặt vì có việc riêng nên bị đơn Khươm đại diện) và bà P cùng chứng kiến. Nguyên đơn ông T đặt cọc bằng tiền mặt. Bà P cũng được nghe nói bị đơn chắc chắn sẽ tách thửa và sang nhượng được miếng đất này cho nguyên đơn. Sau đó bà P có nghe ông T cho biết đã cọc 600.000.000 đồng cho bị đơn nhưng mãi không chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho ông T cũng không trả cọc như hứa hẹn. Bà P cam kết việc làm chứng nói trên là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giả quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn, người làm chứng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 275, 280, 328, 422 Bộ luật Dân sự 2015, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn 600.000.000 đồng tiền đặt cọc mà nguyên đơn đã thanh toán theo thỏa thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Phan Bá T khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn ông Hà Huy C và bà Nguyễn Thị K có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Số A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
[2] Bị đơn ông Hà Huy C và bà Nguyễn Thị K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện nguyên đơn và người làm chứng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và lời khai của các đương sự có căn cứ xác định:
[3.1] Về việc ký kết hợp đồng và quyền, nghĩa vụ của các bên: Ông Phan Bá T có nhận chuyển nhượng của ông Hà Huy C và vợ là bà Nguyễn Thị K phần đất có
5
diện tích 68 m² thuộc một phần thửa đất số 1569, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do ông C và bà K đứng tên. Các bên thỏa thuận giá trị chuyển nhượng là 900.000.000 đồng. Ngày 23/11/2020, các bên ký kết Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất. Hợp đồng thể hiện ông T có nghĩa vụ đặt cọc và thanh toán tiền chuyển nhượng như sau:
- Đợt 1: Ngày 23/11/2020 (cũng là ngày ký hợp đồng) ông T đặt cọc cho ông C, bà K số tiền 100.000.000 đồng.
- Đợt 2: ngày 13/12/2020, ông T đặt cọc cho ông C, bà K số tiền 600.000.000 đồng.
- Đợt 3: Trong vòng 70 ngày kể từ ngày 23/11/2020, hai bên sẽ ra văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng thời ông T có nghĩa vụ phải thanh toán cho vợ chồng ông C số tiền 200.000.000 đồng.
Hợp đồng có chữ ký của ông T, bà K và người làm chứng là bà Nguyễn Thị P.
Để đảm bảo tính pháp lý và có cả ông C cùng ký tên nên ngày 07/12/2020, ông T và vợ chồng ông C cùng tiếp tục ký kết Hợp đồng đặt cọc mới. Về phần đất các bên thỏa thuận chuyển nhượng thì giống như hợp đồng ký ngày 23/11/2020 nhưng do lỗi đánh máy nên ghi sai số thửa. Về đặt cọc và phương thức thanh toán các bên thỏa thuận:
- Đợt 1: Ngày 23/11/2020, ông T đã đặt cọc cho ông C, bà K số tiền 100.000.000 đồng.
- Đợt 2: ngày 12/12/2020, ông T đặt cọc thêm cho ông C, bà K số tiền 500.000.000 đồng.
- Đợt 3: Ngày 03/3/2021, hai bên sẽ ra văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đồng thời ông T có nghĩa vụ phải thanh toán cho vợ chồng ông C số tiền 300.000.000 đồng.
Hợp đồng ngày 07/12/2020 có ông T và vợ chồng ông C ký tên, lăn tay.
Căn cứ Điều 275 Bộ luật Dân sự thì ông T và vợ chồng ông C có các nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng đã ký kết nói trên.
[3.2] Về số tiền đặt cọc: Theo như nguyên đơn trình bày, sau khi ký kết hợp đồng ngày 07/12/2020, ông T đã tiến hành đặt cọc cho vợ chồng ông C số tiền 600.000.000 đồng vào hai đợt: ngày 23/11/2020 và 12/12/2020; khoản tiền 300.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán vào ngày 03/3/2021 khi các bên thực hiện việc chuyển nhượng sang tên tại văn phòng công chứng.
Ông T cung cấp hợp đồng đặt cọc ngày 23/11/2020 và hợp đồng đặt cọc ngày 07/12/2020 với các nội dung như đã phân tích ở trên; giấy hẹn có chữ ký của ông C với nội dung: “Hôm nay ngày 03/6 ông Hà Huy C cam kết sẽ trả tiền cho bên ông Phan Bá T với số tiền là 600.000.000 đồng vào ngày 13/7/2020...”. Tuy nội dung giấy cam kết không nói rõ số tiền ông C cam kết trả là số tiền ông T đã đặt cọc nhận chuyển nhượng đất như nói trên. Tuy nhiên căn cứ vào hợp đồng đặt cọc ngày 07/12/2020 thì số tiền cam kết này trùng khớp với số tiền các bên thỏa thuận ông T đặt cọc 02 lần. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thanh toán tiền cọc có bà P1 làm chứng và bà P1 xác nhận có nội dung này. Xét thấy, những
6
chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án và những lời khai nguyên đơn cũng như của người làm chứng tuy không được vợ chồng ông C thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu vợ chồng ông C cung cấp lời khai, các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối của mình là có căn cứ nhưng vợ chồng ông C không cung cấp nên có căn cứ xác định vợ chồng ông C đã ký hợp đồng đặt cọc và nhận của ông T 02 lần tiền cọc là 600.000.000 đồng.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào đơn khởi kiện và đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn xác định sau khi không thực hiện được việc tách thửa sang tên thì các bên đã cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận chấm dứt các hợp đồng đã ký kết. Đồng thời để đảm bảo việc trả tiền đặt cọc cho ông T thì ông C đã ký giấy cam kết trả cho ông T số tiền 600.000.000 đồng. Như vậy việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và hợp đồng đặt cọc đã chấm dứt trên thực tế. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền theo như tờ cam kết. Mặc dù tờ cam kết chỉ có ông C ký, tuy nhiên căn cứ vào hợp đồng đặt cọc có thể thấy rằng vợ chồng ông C cùng thỏa thuận đặt cọc, ký tên hợp đồng đặt cọc nên có nghĩa vụ cùng nhau trả số tiền cọc cho ông T. Do đó căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự yêu cầu của ông T đối với vợ chồng ông C phải trả tiền cọc 600.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do hợp đồng các bên đã thỏa thuận chấm dứt nên căn cứ Điều 422 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tính hợp pháp của hợp đồng đặt cọc giữa các bên.
[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hà Huy C và bà Nguyễn Thị K phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho ông Phan Bá T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều khoản 1 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Áp dụng các Điều 275, 280, 328, 422 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Bá T đối với bị đơn ông Hà Huy C và bà Nguyễn Thị K về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
- Buộc ông Hà Huy C và bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Bá T số tiền 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng.
7
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Hà Huy C và bà Nguyễn Thị K phải chịu 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương hoàn trả cho ông Phan Bá T số tiền 24.300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001645 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
8
Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 18/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
