|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 21/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng và bà Phạm Thị Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 09a/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 24/01/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, ngày 25/8/1988 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Xuân Q (đã chết); Họ và tên mẹ: Kim Thị K, sinh năm: 1967; Họ và tên chồng: Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1982, có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn G, xã G (trước là xã G), huyện G, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Chị Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Cẩm H1: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Anh H có mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Trần Cẩm N, sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Anh Hà Duy M, sinh năm 1981. Vắng mặt.
- Chị Vũ Thị N1, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1982. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, làm nghề lao động tự do và sinh sống tại: Tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai từ năm 2007 đến nay. Vào ngày 29/3/2019, T sử dụng số điện thoại 0964.776.xxx (sim đăng ký chính chủ của T) khởi tạo tài khoản Zalo “Vera”; sau đó T truy cập mạng xã hội Facebook thì phát hiện tài khoản Facebook tên “Trần Cẩm N” (tên thật là Trần Cẩm N, sinh năm: 1989, trú tại: số A Đ, Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội) thường xuyên đăng tải nhiều hình ảnh về cuộc sống cá nhân của 01 người phụ nữ xinh đẹp, trẻ tuổi nên T tải nhiều hình ảnh của người này về điện thoại của mình rồi đăng tải lại trên Z “Vera” từ ngày 09/02/2021 đến ngày 17/4/2024 với mục đích xây dựng lên một nhân vật có ngoại hình giống người sử dụng tài khoản Facebook “Trần Cẩm N” với hoàn cảnh do T tự nghĩ ra.
Vào đầu năm 2022, T về quê tại xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. Do buồn chán nên T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 6S có kết nối Internet và truy cập Zalo “Vera” và sử dụng tính năng “Tìm quanh đây” có sẵn trên ứng dụng Zalo để tìm bạn nói chuyện. Sau đó, anh Vũ Văn T1, sinh năm 1982, trú tại thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương sử dụng tài khoản Zalo “G” kết bạn với T. Quá trình nói chuyện, T đưa ra các thông tin không có thật do T tự nghĩ ra như: Tên là Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1992, quê quán ở xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương (sau nói tên thật là Nguyễn Thị T); có ngoại hình như hình ảnh đã tải của Trần Cẩm N, còn độc thân, hiện đang sinh sống và làm kinh doanh tại TP Hà Nội; nhà T đầu tư làm xăng dầu, bố trước làm bộ đội sau đó về làm kinh doanh (thực tế T không sinh sống và kinh doanh tại thành phố Hà Nội, T đã có chồng, bố T đã chết); T có sở hữu 01 căn nhà chung cư tại thành phố Hà Nội (thực tế T không sở hữu căn nhà nào tại thành phố Hà Nội),.... (Sau đây gọi nhân vật T tự xây dựng ra là T, sinh năm 1992). Sau một thời gian, T tự đổi tên Z “Vera” thành “Agnes”. Trong suốt quá trình trò chuyện, T và anh T1 chỉ nhắn tin qua tin nhắn Zalo, tin nhắn SMS hoặc các cuộc gọi thoại thông thường chứ không thực hiện cuộc gọi video trực tiếp (Video call) do T lớn tuổi, ngoại hình không được đẹp, không giống với hình ảnh người phụ nữ đã đăng tải trên Zalo nên T sợ anh T1 sẽ nhận ra T không phải là nhân vật T, sinh năm 1992 mà T đã xây dựng. Tuy T và anh T1 chưa gặp mặt ngoài đời thực bao giờ nhưng đến đầu tháng 7/2022, mặc dù T không có tình cảm gì với anh T1 nhưng do bản thân T đang khó khăn về kinh tế nên muốn hỏi vay mượn, xin tiền của anh T1 và lấy tiền đó để tiêu xài cá nhân. Vì vậy, T nói có tình cảm với người anh T1 và thể hiện tình cảm qua tin nhắn Zalo. Sau đó, anh T1 và T xác lập mối quan hệ là người yêu, xưng hô là vợ chồng.
Ngày 03/7/2022, T đóng vai là T, sinh năm 1992 hỏi vay tiền của anh T1 lần đầu tiên, anh T1 yêu cầu T phải chụp ảnh 02 mặt căn cước công dân, gọi video call nói chuyện trực tiếp và có kế hoạch trả nợ nhưng T không đáp ứng yêu cầu này của anh T1 vì sợ lộ thân phận thật của mình. Đến ngày 04/7/2022, T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh T1 bằng hình thức lừa tình để có tiền tiêu xài cá nhân nên T tiếp tục sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S (là chiếc điện thoại trước đó T dùng để truy cập Zalo “Agnes”) có kết nối Internet và truy cập Z “Nguyên Thảo”, được đăng ký bằng số điện thoại 0983.890.xxx (sim đăng ký chính chủ của T) kết bạn, nhắn tin với tài khoản Zalo “G” của anh T1. Khi trò chuyện, T giới thiệu thân phận thật của mình là Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, quê quán tại xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương và là bạn bè quen biết, cùng quê với T, sinh năm 1992 để tạo thêm niềm tin từ anh T1 cho nhân vật T, sinh năm 1992 mà T đã xây dựng. Để che đậy thân phận của mình, khi đóng vai là T, sinh năm 1988 thì T lừa anh T1 việc T, sinh năm 1992 gặp khó khăn và bảo anh T1 cho T, sinh năm 1992 vay tiền. Mục đích để khi anh T1 tin tưởng chuyển tiền cho T, sinh năm 1992 thì T sẽ chiếm đoạt số tiền đó. Khi anh T1 đã tin tưởng T, sinh năm 1992 là người có thật thì đã chuyển cho T, sinh năm 1992 vay 10.000.000 đồng vào số tài khoản 0291000265754, mở tại Ngân hàng TMCP N2 (V) của T. Ngoài ra, T còn dùng tài khoản Zalo “Agnes” tự nhắn tin với tài khoản Z “Nguyên Thảo” của chính T, T xây dựng như hai người khác nhau tự nói chuyện với nhau. Sau đó T sử dụng hình ảnh chụp màn hình cuộc nói chuyện giữa hai tài khoản này gửi cho anh T1 để anh T1 tin tưởng T là bạn của T, sinh năm 1992 và T, sinh năm 1992 đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, cần vay tiền.
Sau khi tạo được lòng tin và giành được tình cảm của anh T1, từ ngày 4/7/2022 đến ngày 22/8/2023; qua ứng dụng Zalo, T đóng vai của T, sinh năm 1992 đã đưa ra nhiều thông tin, lý do không có thật về cuộc sống của T để anh T1 chuyển tiền cho nhân vật T, sinh năm 1992 thông qua số tài khoản 0291000265754, mở tại Ngân hàng TMCP N2 (V), chủ tài khoản “NGUYEN THI THAO” của T hoặc những tài khoản mà T cung cấp, từ đó T chiếm đoạt số tiền này. Tổng cộng, anh T1 đã sử dụng số tài khoản 2310215005214, mở tại Ngân hàng N3 (A) của mình để chuyển tiền cho T 259 lần, tương ứng với số tiền là 453.690.000 đồng (B trăm năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Cụ thể như sau:
- 184 lần Nguyễn Thị T nhiều lần đóng vai T, sinh năm 1992 đưa ra các thông tin, lý do không có thật như: Thảo ốm, mẹ T ốm, thiếu tiền mua vé máy bay, thiếu tiền ăn, người thân chết, gặp khó khăn,.... để anh T1 tin tưởng và cho, tặng tổng số tiền 242.020.000 đồng. Trong số này có 01 lần chuyển số tiền 900.000 đồng đến số tài khoản 5004205215161, mở tại Ngân hàng N3 (A) của chị Vũ Thị N1, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- 75 lần Nguyễn Thị T nhiều lần đóng vai T, sinh năm 1992 đưa ra các thông tin, lý do không có thật như: Mua vé máy bay, trả lãi, trả nợ, liên hoan, lo cho mẹ về Mỹ,.... để anh T1 tin tưởng và cho T vay tổng số tiền 221.670.000 đồng.
Ngoài 259 lần trên, có 01 lần Nguyễn Thị T dùng thân phận thật của mình vay anh T1 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền này anh T1 chuyển đến số tài khoản 9987770387, mở tại Ngân hàng TMCP N2 (V) của anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai (là chồng của T).
Ngoài ra, Nguyễn Thị T nhiều lần đóng vai T, sinh năm 1992 chuyển lại cho anh T1 18 lần, tương ứng với tổng số tiền là 82.700.000 đồng (T3 mươi hai triệu bảy trăm nghìn đồng) với mục đích tạo lòng tin từ anh T1 để tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị T chưa chuyển trả lại cho anh T1 là: 453.690.000 đồng - 82.700.000 đồng = 370.990.000 đồng. Toàn bộ số tiền này Nguyễn Thị T đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết. Số tiền còn lại trong tài khoản số 0291000265754, mở tại Ngân hàng TMCP N2 (V), chủ tài khoản “NGUYEN THI THAO” của T tính đến ngày 20/4/2024 chỉ còn 69.935 đồng.
Khoảng tháng 6/2023, anh T1 đi vào tỉnh Gia Lai chơi với người nhà và gặp T tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình gặp T thì do có đông người nên hai bên không nói chuyện gì liên quan đến T, sinh năm 1992. Đến khoảng cuối tháng 8/2023, anh T1 nói đầu tư làm ăn và cần tiền nên đòi lại số tiền đã chuyển trước đó nhưng Nguyễn Thị T đóng vai T, sinh năm 1992 lấy lý do khất lần không trả. Anh T1 liên lạc với Nguyễn Thị T để hỏi về T, sinh năm 1992 thì Nguyễn Thị T trả lời là không rõ nhân thân lai lịch của T, sinh năm 1992 và nói T, sinh năm 1992 đang ở nước Mỹ, anh T1 muốn đòi tiền thì sang Mỹ mà đòi. Đến ngày 25/10/2023, Nguyễn Thị T đăng nhập tài khoản Zalo “Agnes” chặn tin nhắn, chặn cuộc gọi, chặn xem nhật ký và ẩn khỏi nhật ký tài khoản Zalo “Gia Vũ” của anh T1, cắt đứt liên lạc với anh T1; đối với tài khoản Z “Nguyên Thảo” thì hủy kết bạn với tài khoản “Gia Vũ” của anh T1, để anh T1 không liên lạc đòi tiền T được. Sau khi nghi ngờ bị kẻ gian lợi dụng không gian mạng để lừa đảo, chiếm đoạt tiền của mình; ngày 29/3/2024, anh Vũ Văn T1 đã đến Cơ quan điều tra tố giác hành vi phạm tội của Nguyễn Thị T.
Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 22/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện G, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại đơn đề nghị vắng mặt bị hại xác định đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại, đến nay không có yêu cầu gì khác, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa:
Anh H xác định cho bị cáo số tiền vợ chồng anh đã bồi thường cho bị hại, không có yêu cầu gì khác.
Đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 11 năm tù đến 11 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, tịch thu tiêu hủy sim số 0983890459; đề nghị V1 thu hồi số thuê bao 0983890459. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, VKSND huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Từ đầu năm 2022 đến tháng 8 năm 2023, Nguyễn Thị T đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách sử dụng tài khoản Zalo đưa ra thông tin không đúng sự về hình ảnh bản thân, nhân thân, nghề nghiệp,... bằng cách đăng tải hình ảnh của chị Trần Cẩm N, sinh năm 1989, trú tại tổ A, phường Đ, quận H, phố H, sử dụng tin nhắn, lời nói, hành động để xây dựng hình ảnh một người phụ nữ độc thân, trẻ đẹp làm anh Vũ Văn T1 tin đó là con người thật, từ đó hứa hẹn, xác định quan hệ tình cảm và đã 259 lần chuyển tiền cho T (trong đó lần chuyển tiền nhiều nhất là 15.000.000 đồng, lần ít nhất là 60.000 đồng và có nhiều lần chuyển tiền trên 2.000.000 đồng). Tổng số tiền T đã chiếm đoạt của anh T1 là 453.690.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Để tạo dựng lòng tin, trong thời gian trên T cũng đã chuyển trả anh T1 18 lần, tương đương với tổng số tiền là 82.700.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh T1, T đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này và chặn tin nhắn, cắt đứt liên lạc với anh T1.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do cần tiền để tiêu xài, lại lười lao động nên bị cáo dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin không đúng sự thật để bị hại chuyển tiền với mục đích chiếm đoạt tiền của bị hại, tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 453.690.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần chiếm đoạt tiền của bị hại với số tiền chiếm đoạt mỗi lần trên 2.000.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm "Phạm 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "Thành khẩn khai báo"; "Người phạm tội bồi thường thiệt hại"; "Tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ" quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chuyển trả anh T1 18 lần, tương đương với tổng số tiền là 82.700.000đồng; như vậy, số tiền chưa trả lại cho anh T1 là 370.990.000 đồng. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tác động đến anh trai là Nguyễn Xuân H và chị dâu là Nguyễn Thị Cẩm H1 nên ngày 21/7/2024, anh H đã bồi thường số tiền 373.640.000đồng cho anh Vũ Văn T1; đến nay, anh T1 không có yêu cầu gì khác. Anh H, chị H1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này và đồng ý cho bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì khác về việc bồi thường này. Mặc dù, số tiền bồi thường cho bị hại cao hơn giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt còn lại nhưng đây là sự tự nguyện của bị cáo, đến nay bị cáo và bị hại không có ý kiến gì khác. Do vậy, HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với số tiền 1.300.000đồng do anh Vũ Văn T1 chuyển đến tài khoản của anh Nguyễn Thành Đ cho bị cáo Nguyễn Thị T khi T dùng thân phận thật để hỏi vay tiền. Anh T1 tự nguyện cho T số tiền này nên không đặt vấn đề giải quyết.
[9] Về vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, lắp sim số 0983890459, quá trình điều tra xác định đây là điện thoại và sim của Nguyễn Thị T, xét thấy đây là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để chiếm đoạt tài sản của bị hại, do chiếc điện thoại còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, còn chiếc sim không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị V1 thu hồi số thuê bao 0983890459.
Đối với sim số 0964776279 thì T trình bày đã ném bỏ trên đường đi vào cuối năm 2023, không rõ ở vị trí nào nên Cơ quan điều tra không thu giữ được; do vậy, HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[10] Đối với việc T cung cấp tài khoản của anh Nguyễn Thành Đ, chị Vũ Thị N1 để anh T1 1 lần chuyển tiền vào, chị Trần Cẩm N bị T sử dụng hình ảnh cá nhân. Anh Đ, chị N1, chị N đều không biết việc bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và đều không được hưởng lợi gì nên không đặt vấn đề xử lý.
Chị Trần Cẩm N không yêu cầu T phải bồi thường về dân sự nhưng yêu cầu T phải xóa bỏ toàn bộ hình ảnh cá nhân của chị N.
Đối với hai số thuê bao 0964776279 và 0983890459 đăng ký tên Nguyễn Thị T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã có Công văn gửi Tập đoàn C (V1) thông báo số thuê bao trên bị sử dụng vào việc phạm tội.
Đối với hai tài khoản Zalo “Agnes”, được đăng ký bằng số điện thoại 0964.776.xxx và tài khoản Zalo “Nguyên Thảo”, được đăng ký bằng số điện thoại 0983.890.xxx, bị cáo Nguyễn Thị T sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã có Công văn gửi Công ty cổ phần V2 thông báo về việc sử dụng tài khoản Zalo vào việc phạm tội.
[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Thị T.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, loại 6s, màu xám, số IMEI: 353799087852570, số máy MN132LL/A, số seri: C6KT44DVHFLR. Tịch thu tiêu hủy sim số 0983890459 (được lắp trong chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, loại 6s này). Đề nghị V1 thu hồi số thuê bao 0983890459.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Giang |
Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 18/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ đầu năm 2022 đến tháng 8 năm 2023, Nguyễn Thị Thảo đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách sử dụng tài khoản Zalo đưa ra thông tin không đúng sự về hình ảnh bản thân, nhân thân, nghề nghiệp,... bằng cách đăng tải hình ảnh của chị Trần Cẩm Nhung, sinh năm 1989, trú tại tổ 10, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, phố Hà Nội, sử dụng tin nhắn, lời nói, hành động để xây dựng hình ảnh một người phụ nữ độc thân, trẻ đẹp làm anh Vũ Văn Thiêm tin đó là con người thật, từ đó hứa hẹn, xác định quan hệ tình cảm và đã 259 lần chuyển tiền cho Thảo (trong đó lần chuyển tiền nhiều nhất là 15.000.000 đồng, lần ít nhất là 60.000 đồng và có nhiều lần chuyển tiền trên 2.000.000 đồng). Tổng số tiền Thảo đã chiếm đoạt của anh Thiêm là 453.690.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Để tạo dựng lòng tin, trong thời gian trên Thảo cũng đã chuyển trả anh Thiêm 18 lần, tương đương với tổng số tiền là 82.700.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh Thiêm, Thảo đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này và chặn tin nhắn, cắt đứt liên lạc với anh Thiêm
