|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-02-2025. v/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mi Mi
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Thị Kim Trang
2/ Bà Đào Thị Mộng Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 450/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01ª/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2025, Quyết định Hoãn phiên tòa số 05/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Lưu Đ, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Bà Ngô Thị X, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 16/10/2024, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Lê Lưu Đ trình bày: Ông và bà X cưới nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buộc và được gia đình hai bên đồng ý. Sau khi cưới vợ chồng sống cùng với gia đình chồng ở phường P được 02 năm, sau đó về Thôn C, xã H cất nhà ra ở riêng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng làm ăn thua lỗ nên thường xuyên cải vã nhau nên ông đã bỏ về P sống và vợ chồng không còn sống chung và quan hệ tình cảm từ đó đến nay. Trong thời gian không sống chung thì thỉnh thoảng ông có về thăm con, nhưng vợ chồng không có bàn bạc để hàn gắn hạnh phúc và cũng trong thời gian này ông đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc để giải quyết việc ly hôn, nhưng sau đó ông đã rút lại đơn vì ông thương con, muốn con vợ chồng cùng nuôi dạy con. Mặc dù, ông đã cố gắng để cho vợ chồng cơ hội đoàn tụ, nhưng khi về lại vợ chồng không có tiếng nói chung, vẫn thường xuyên cải vã nhau không hàn gắn được. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của ông là yêu cầu xin được ly hôn với bà Ngô Thị X.
- Về con chung: Vợ chồng có con chung tên Lê Quốc T, sinh ngày 23/02/2014, hiện nay con đang sống cùng bà X.
Khi ly hôn, ông Đ yêu cầu giao con chung cho bà X nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi con số tiền là 2.000.000đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Ngô Thị X đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn bà Ngô Thị X. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
[2]. Về nội dung:
+ Về hôn nhân: Hôn nhân của ông Lê Lưu Đ và bà Ngô Thị X có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P theo giấy chứng nhận kết hôn số 224, quyển số 02/2005, ngày 20/01/2005 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau nên xảy ra tình trạng cãi vã và ông Đ phải bỏ nhà đi nhiều lần. Xét mâu thuẫn của ông Đ và bà X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, thể hiện qua việc trước đây, ông Đ nhiều lần có đơn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc yêu cầu giải quyết ly hôn cho ông Đ cũng với lý do trên, sau khi Tòa thụ lý giải quyết tiến hành hòa giải, vì thương con nên ông Đ đã rút lại đơn để vợ chồng hàn gắn lại với nhau và Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã ra các Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, cụ thể số 15/2021/QÐST-HNGĐ ngày 11/3/2021; số 58/2021/QÐST-HNGĐ ngày 02/6/2021; số 47/2022/QÐST-HNGĐ ngày 09/5/2022 và số 77/2022/QÐST-HNGĐ ngày 04/7/2022. Tuy nhiên, sau đó, vợ chồng vẫn không hàn gắn, sống chung lại với nhau được nên ông Đ tiếp tục gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết cho ông được ly hôn. Về phía bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà X nhưng bà cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà X thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho ông Đ ly hôn với bà X là phù hợp với thực tế và đúng qui định của pháp luật.
+ Về con chung: Ông Đ và bà X có 01 con chung tên Lê Quốc T, sinh ngày 23/02/2014. Ông Đ tự nguyện, thỏa thuận để con chung cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng và ông Đ cấp dưỡng nuôi con số tiền là 2.000.000đồng/tháng. Xét thấy hiện nay con đang sinh sống ổn định với bà X. Hơn nữa theo nguyên vọng của cháu T mong muốn được tiếp tục ở với mẹ. Xét việc thỏa thuận về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của ông Đ là hoàn toàn tự nguyện không trái pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con. Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận nội dung thỏa thuận nêu trên.
+ Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Ông Lê Lưu Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (án phí cấp dưỡng nuôi con) theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5, Đ1 a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bà Ngô Thị X không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35, Khoản 01 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5, Đ1 a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
[1]. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Lưu Đ. Ông Lê Lưu Đ được ly hôn bà Ngô Thị X.
[2]. Về con chung: Giao con chung tên Lê Quốc T, sinh ngày 23/02/2014 cho bà Ngô Thị X trực tiếp nuôi dưỡng.
Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Ông Lê Lưu Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lê Quốc T mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi người được cấp dưỡng đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Ông Lê Lưu Đ được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[3]. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Ông Lê Lưu Đ phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (án phí cấp dưỡng nuôi con). Ông Lê Lưu Đ được khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013820 ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Ông Lê Lưu Đ còn phải tiếp tục nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Bà Ngô Thị X không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/02/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Đã ký Nguyễn Thị Mi Mi |
5
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Tranh chấp nuôi con
