|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-02-2025.
V/v: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Trãi
- Bà Bùi Thị Thanh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tố Q, sinh năm 1988. Có mặt.
Nơi cư trú: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024, trình bày của nguyên đơn, vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên chị Lê Thị Tố Q và anh Nguyễn Minh T xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2006, do tự nguyện thương yêu, được cha mẹ đồng ý, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn.
Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 03/3/2006 (nam).
Thời gian đầu chị Q và anh T sống rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh chị thường bất hòa về tình cảm do không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau, hôn nhân không hạnh phúc, không hàn gắn được nên chị Q và anh T đã ly thân từ năm 2007 cho đến nay.
Xét thấy hôn nhân không đạt kéo dài không hạnh phúc nên chị Q yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Q và ông Nguyễn Minh T.
Về con chung: Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 03/3/2006 (nam) đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án đặt ra xét xét, giải quyết.
Về tài chung và nợ chung: Chị Q xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Minh T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Lê Thị Tố Q yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn anh Nguyễn Minh T. Bị đơn cư trú tại khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Đây là vụ án “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 8 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Q cho rằng vào năm 2006, chị và anh T tự nguyện tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau coi nhau như vợ chồng và có 01 con chung nhưng anh chị không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Pháp luật quy định trường hợp của các đương sự sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân sẽ được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn. Chị Q và anh T biết về quy định này nhưng đến nay anh chị vẫn không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau. Nay chị Q cho rằng cuộc sống chung như vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, thường bất hòa về tình cảm do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và đã không còn chung sống từ năm 2007 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị Q xin không công nhận vợ chồng với anh T. Anh T dù đã được triệu tập nhiều lần để ghi nhận ý kiến, hàn gắn tình cảm nhưng anh T vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu của chị Q, thể hiện, mâu thuẫn gia đình anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài.
Do đó, chị Q yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân & Gia đình.
[3] Xét về con chung: Chị Q tự xác định anh chị có 01 người con chung, họ và tên là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 03/3/2006 (nam). Chị Q tự xác định Nguyễn Lê Minh K đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn xác định không có tài sản chung, không có nợ chung. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, về tài sản chung, nợ chung tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu và theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.
[5] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- - Khoản 8 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị Tố Q và anh Nguyễn Minh T.
- Về con chung: con chung họ và tên là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày: 03/3/2006 (nam), đã trưởng thành, không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các bên đương sự có yêu cầu và theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.
- Về án phí: Chị Lê Thị Tố Q phải chịu án phí vụ án hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002029 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Chị Lê Thị Tố Q đã nộp xong án phí.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Nương |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
