|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 02 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Xuân Tình.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Kim Ngọc.
- Bà Lý Thị Thu Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thảo Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1974.
Địa chỉ: ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh B tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào năm 2002. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, ông bà đã cố hàn gắn nhưng không được. Do đó, ông khởi kiện xin được ly hôn ông Nguyễn Thanh B.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Nguyễn Nhật L, (giới tính: Nam) sinh năm 2003 và Nguyễn Thị Kiều L1 (giới tính: Nữ) sinh ngày 17/9/2010. Khi ly hôn, bà Trần Thị X yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Thị Kiều L1 (giới tính: Nữ) sinh ngày 17/9/2010, không yêu cầu cấp dưỡng. Đối với con chung Nguyễn Nhật L đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét xét giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh B vắng mặt nên chưa có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị X và ông Nguyễn Thanh B vắng mặt nên chưa có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Trần Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Thanh B và yêu cầu được nuôi con chung nên Tòa án xác định đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Thanh B cư trú tại ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về xét xử vắng mặt: Nguyên đơn bà Trần Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X và ông Nguyễn Thanh B đã tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào năm 2002. Do đó, hôn nhân giữa bà Trần Thị X và ông Nguyễn Thanh B là hợp pháp. Bà Trần Thị X yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh B là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Vì vậy, bà Trần Thị X cương quyết xin ly hôn. Trong khi đó, ông Nguyễn Thanh B bỏ mặc, không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa bà Trần Thị X và ông Nguyễn Thanh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị X, cho bà Trần Thị X ly hôn với ông Nguyễn Thanh B là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Trần Thị X và ông Nguyễn Thanh B có 02 con chung là Nguyễn Nhật L, (giới tính: Nam) sinh năm 2003 và Nguyễn Thị Kiều L1 (giới tính: Nữ) sinh ngày 17/9/2010. Khi ly hôn, bà Trần Thị X yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Thị Kiều L1 (giới tính: Nữ) sinh ngày 17/9/2010, không yêu cầu cấp dưỡng. Đối với con chung Nguyễn Nhật L đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện cháu L1 đang sống chung với mẹ và có nguyện vọng được mẹ tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống và đảm bảo tốt nhất quyền lợi về mọi mặt của cháu L1, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Nguyễn Thị Kiều L1 (giới tính: Nữ) sinh ngày 17/9/2010 cho bà Trần Thị X được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
[6] Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết, bà Trần Thị X không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị X không yêu cầu và ông Nguyễn Thanh B cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Trần Thị X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị X.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Thanh B.
- Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Thị Kiều L1 (giới tính: Nữ) sinh ngày 17/9/2010 cho bà Trần Thị X được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. ông Nguyễn Thanh B có quyền và nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Ông Nguyễn Thanh B chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Nguyễn Thanh B chưa có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Do chưa có yêu cầu nên chưa xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
- Về án phí: Bà Trần Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Trần Thị X đã nộp theo biên lai số 0001261 ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, bà Trần Thị X không phải nộp thêm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Xuân Tình |
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
