Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST

Ngày: 5-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Thanh Nhàn;
  2. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.

Vào ngày 5 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 4/2025/TLST-HS ngày 7 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 9/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982 tại Cà Mau; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 305/3 Khóm E, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Căn cước công dân: [...]; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Phạm Ngọc L, sinh năm 1958 (đã chết); Bị cáo có 05 chị em, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền án: Ngày 14/9/2023, bị can bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 192/2023/HSST ngày 14/9/2023 (chấp hành xong án phạt tù ngày 06/5/2024, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng ngày 09/4/2024); Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 23/12/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 203/2008/HSST ngày 23/12/2008 (chấp hành xong án phạt tù ngày 27/3/2009, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 50.000 đồng ngày 21/9/2010).

- Ngày 06/11/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 05/9/2015. Ngày 02/9/2016, bị can được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại.

- Ngày 25/10/2024, bị can bị Công an phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 16/10/2024 (chấp hành nộp phạt ngày 02/01/2025).

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 16/01/2024 cho đến nay.

- Bị hại:

  1. Ông Huỳnh T, sinh năm 1990; nơi thường trú: Buôn W, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  2. Ông Võ Văn Ơ, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 16/10/2024, Nguyễn Văn Q nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên điều khiển xe đạp hiệu martin của mình mang theo 01 kìm bằng kim loại cất trong túi áo khoác đi từ khu vực Nhà trọ U thuộc khu phố P, phường H, thành phố B đến đường H thuộc khu phố P, phường H, thành phố B tìm tài sản lấy trộm. Khi Q đi đến trước cổng nhà kho của công ty TNHH Đ, Q phát hiện cửa cổng đóng, bên trong có anh Võ Văn Ơ (sinh năm 1988, nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) nằm ngủ trên võng nên Q dựng xe rồi trèo qua hàng rào cổng bằng sắt đi vào bên trong kho tìm tài sản. Quí lén lút đi lại gần chỗ anh Ơ nằm ngủ thì thấy bên cạnh để 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e màu đen của anh Ơ đang cắm sạc. Lúc này, Q lấy điện thoại di động của anh Ơ cất giấu vào trong túi quần bên phải. Sau đó, Q thấy cửa phòng nhân viên không khóa cửa, bên trong phòng có anh Huỳnh T (sinh năm 1990, nơi cư trú: Buôn W, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) nằm ngủ dưới nền gạch bên cạnh để 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu xanh nên lén lút đi vào phòng lấy điện thoại di động của anh T cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi đi ra cổng, trèo qua hàng rào ra ngoài điều khiển xe đạp chạy về khu vực nhà trọ U. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe chạy được khoảng 100m thì dừng trên đường DT741, lấy điện thoại trộm được ra xem thì bị lực lượng Công an phường H kiểm tra hành chính. Qua làm việc, Q đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là 02 điện thoại di động như trên.

Đối với bị hại anh Võ Văn Ơ và anh Huỳnh T, khoảng 08 giờ ngày 16/10/2024, anh Ơ và anh T đến Công an phường H trình báo vụ việc bị chiếm đoạt tài sản. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu xanh; 01 kìm bằng kim loại; 01 xe đạp hiệu Martin.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát, Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Q phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Theo Kết luận định giá tài sản số 124 ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e, đã qua sử dụng trị giá 2.200.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro, đã qua sử dụng trị giá 2.060.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Ngày 14/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát giao trả: 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e màu đen cho anh Võ Văn Ơ; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu xanh cho anh Huỳnh T.

Tại Bản Cáo trạng số 25/CT-VKSBC ngày 6/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 kìm bằng kim loại; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe đạp hiệu Martin (đã qua sử dụng).

Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 25/CT-VKSBC ngày 6/01/2025.

Bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ ngày 16/10/2024, tại nhà kho của công ty TNHH Đ thuộc khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, Nguyễn Văn Q đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e trị giá 2.200.000 đồng của anh Võ Văn Ơ và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro trị giá 2.060.000 đồng của anh Huỳnh T. Sau đó, Q bị lực lượng Công an phường H kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ được 02 điện thoại bị chiếm đoạt (Theo Kết luận định giá tài sản số 124 ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B). Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, lười lao động bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân:

  • Ngày 23/12/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 203/2008/HSST ngày 23/12/2008 (chấp hành xong án phạt tù ngày 27/3/2009, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 50.000 đồng ngày 21/9/2010).
  • Ngày 06/11/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 05/9/2015. Ngày 02/9/2016, bị can được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại.
  • Ngày 25/10/2024, bị can bị Công an phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 16/10/2024 (chấp hành nộp phạt ngày 02/01/2025).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc trường hợp đã bị kết án theo Bản án số 192/2023/HSST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối chiếu với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời có tác dụng giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Do đó, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

[4] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 kìm bằng kim loại là công cụ thực hiện tội phạm cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe đạp hiệu Martin (đã qua sử dụng) là phương tiện thực hiện tội phạm cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[5] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức hình phạt 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
  4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 kìm bằng kim loại.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe đạp hiệu Martin (đã qua sử dụng).

    (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 6/01/2025 giữa Công an thành phố Bến Cát và Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).

  5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Diễm Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger