|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 23-01-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thiên Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Triều –Phó giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu– Chủ tịch Hội khuyến học quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Hưng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 và 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 173/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 835/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
UTHAI SAEN NHẬT CHIÊU, sinh ngày: 31/10/2007; tại Cần Thơ; đăng ký thường trú: 79/2/6 đường X, phường T (trước sáp nhập là phường A), quận N, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; con ông Uthai Saen N (SN:1974) và bà Bùi Tú H (SN: 1986) (Làm người đại diện cho bị cáo); bị cáo chưa có vợ - con.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa, bà H có mặt.
* Người bào chữa bị cáo Uthai Saen Nhật C: Bà Bùi Thị Xuân T - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C (có mặt).
-
BÙI QUANG H1, sinh ngày: 10/10/2005; tại Cần Thơ; đăng ký thường trú: Số D, khu vực T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, con ông Bùi Hữu T1 (SN: 1954) và bà Bùi Thị Ngọc X (SN: 1968); bị cáo chưa có vợ - con.
Tiền án; tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
-
P1 (tên gọi khác: Đạt C1), sinh ngày: 10/12/2005. Giới tính: Nam; tại Cần Thơ;
Đăng ký thường trú: Số B đường T, phường T (trước sáp nhập là phường A), quận N, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: như trên.
Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Phan Hùng V (SN: 1968) và bà Lê Hoàng N1 (SN: 1977); bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Về nhân thân: Ngày 07/5/2024 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án số: 30/2024/HS-ST, ngày 07/5/2024.
Bị cáo đang bị tạm giam ngày 12/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Cần Thơ – Có mặt tại phiên tòa.
-
NGUYỄN THÀNH L, sinh ngày: 10/6/2007; Giới tính: Nam; tại Cần Thơ; đăng ký thường trú: Số A, khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: C đường N, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Thanh H2 (SN: 1974) và mẹ tên Võ Thị H3 (SN: 1977) (Làm người đại diện cho bị cáo); bị cáo chưa có vợ - con.
Tiền án: Chưa.
Tiền sự: 01 lần, ngày 17/4/2023 bị Công an quận T, thành phố Cần Thơ xử phạt cảnh cáo về hành vi “cất giữ vũ khí thô sơ nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa, bà H3 có mặt.
* Người bào chữa bị cáo Nguyễn Thành L: Bà Bùi Thị Xuân T - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C (có mặt).
-
TRƯƠNG ANH LỘC, sinh ngày: 20/10/2006; Giới tính: Nam; tại Cần Thơ; đăng ký thường trú: Số B đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: như trên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; con ông Trương Hồng  (SN: 1966) và bà Đỗ Thị Tuyết M (SN: 1976) (Làm người đại diện cho bị cáo); bị cáo chưa vợ - con;
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa, bà M có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Trương Anh L1: Bà Nguyễn Thị Chúc L2 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C (có mặt).
-
NGUYỄN MINH L3, sinh ngày: 30/11/2006; Giới tính: Nam; tại Cần Thơ; đăng ký thường trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. Chỗ ở: Số D đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Văn M1 (SN: 1962) và bà Phạm Thị D (SN: 1975) (Làm người đại diện cho bị cáo); bị cáo chưa vợ - con;
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa, bà D có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh L3: Bà Nguyễn Thị Chúc L2 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm: 2005. Địa chỉ: Số D, đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 29/12/2023, Uthai Saen N điện thoại cho Bùi Quang H1 đến Bảo tàng Quân khu I để nhờ dàn xếp việc C thiếu tiền vay của Nguyễn Thành T3. Sau đó C điện thoại hẹn gặp T3 tại Bảo tàng Quân khu I, khi T3 cùng với Nguyễn Minh P đến gặp C và H1 thì C nói còn thiếu T3 1.000.000 đồng đã đóng lãi, giờ xin giảm bớt 500.000 đồng, lúc này H1 cũng nói với T3 giảm bớt tiền lãi cho C, T3 không đồng ý, lập tức H1 dùng tay trái nắm cổ áo T3, tay phải lấy trong túi quần sau cây dao xếp màu đen (hình thẻ ATM) bật lưỡi dao ra dọa đâm T3 nhưng được P can ngăn. Sau đó, T3 và Phú bỏ đi về quán cà phê của T3 tại số D, đường T, phường A, quận N.
Khi T3 và P đi về, C tiếp tục nhờ H1 đi đến quán cà phê của T3, H1 điện thoại cho Phan Thành Đ đến để giúp sức, lúc này Đ đang uống cà phê cùng Nguyễn Minh L3, Nguyễn Thành L và Trương Anh L1 nên rủ tất cả cùng đi. Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, Phan Thành Đ, Nguyễn Minh L3, Nguyễn Thành L và Trương Anh L1 đến trước cổng Bảo tàng Quân khu I gặp H1, H1 nói “anh có chuyện với T3, cưng qua quán nó với anh” cả nhóm đồng ý rồi đi trên 04 xe mô tô đến quán cà phê của T3. Khi đến quán cà phê của T3, các bị cáo dừng xe dưới lòng đường, H1 và Đ xông vào quán, H1 vừa chửi tục lớn tiếng đe dọa T3, tay phải bật lưỡi dao xếp màu đen, hình thẻ ATM xông tới đâm T3, T3 lùi lại nên không trúng, thấy H1 dùng dao đâm T3, Đ cũng xông đến dùng tay đánh T3 nhiều cái, lúc này L3 đứng ở ngoài cửa cầm 01 cục bê tông chọi T3 nhưng không trúng, L và L1 cũng lấy ghế nhựa ném vào người của T3; mặc dù được P (bạn của T3) và Lê Thị Phương A (bạn gái H1) can ngăn nhưng H1 vẫn cầm dao đe dọa T3, L3 tiếp tục cầm bàn gỗ của quán ném vào người T3, Đ lấy chiếc đũa tre định đâm T3 thì bị Phan Anh T4 can ngăn; riêng C đứng ngay cửa quán không tham gia tấn công T3. Do bị P và Phương A liên tục can ngăn và thấy có đông người đi đến nên các bị cáo đi ra lấy xe bỏ chạy. Khi bị Cơ quan điều tra mời làm việc, H1 kêu Nhật C mua 01 cây dao rọc giấy để giao nộp, riêng cây dao xếp hình thẻ ATM, H1 đã ném bỏ.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) Đĩa DVD trích từ camrera ghi lại hình ảnh các bị can tấn công bị hại tại quán cà phê của bị hại;
- 01 (một) con dao rọc giấy, do bị cáo C giao nộp.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Uthai Saen Nhật C khai nhận, bị cáo nhờ H1 đứng ra giải quyết giúp bị cáo tiền nợ của T3, khi thấy H1 dùng dao đe dọa T3 tại trước cổng Bảo tàng Quân khu 9, bị cáo nghĩ H1 có thể làm T3 sợ mà giảm tiền bị cáo còn thiếu nên tiếp tục nhờ H1 đến quán cà phê của T3 để giải quyết tiền nợ của bị cáo; sau khi H1 gọi thêm Đ, L, L3 và L1 đến, cả nhóm đến quán cà phê của T3; tại đây, bị cáo để mặt cho các bị cáo H1, Đ, L, L3 và L1 dùng dao tấn công, dùng bàn gỗ, ghế nhựa, cục bê tông ném, chọi T3 mục đích để T3 sợ và chấp nhận giảm bớt số tiền bị cáo còn thiếu. Sau khi cùng H1, Đ, L, L3 và L1 bỏ chạy, bị cáo đã mua dao rọc giấy giao nộp cho Cơ quan điều tra theo yêu cầu của bị cáo H1.
Các bị cáo Bùi Quang H1, Phan Thành Đ, Nguyễn Thành L, Trương Anh L1, Nguyễn Minh L3 đều khai nhận: không có mâu thuẫn với anh Nguyễn Thành T3, chỉ vì muốn giúp Nhật C “dàn xếp” tiền nợ với anh T3 đồng thời cho rằng T3 có thái độ xem thường khi nói chuyện ở trước cổng Bảo tàng Quân khu I nên bị cáo H1 đã rủ Đ, L, L3 và L1 cùng đến quán cà phê của T3 để đánh T3. Khi nghe H1 nói “có chuyện với T3” thì 04 bị cáo Đ, L, L3 và L1 đều hiểu ý là đi đánh nhau, đều nhanh chóng đồng ý và sau đó các bị cáo đã dùng dao tấn công, dùng bàn gỗ, ghế nhựa, cục bê tông ném, chọi T3 ngay tại quán cà phê của T3. Ngoài ra, bị cáo H1 cũng thừa nhận kêu bị cáo C mua dao rọc giấy giao nộp mục đích là để giảm nhẹ tội, riêng dao xếp hình thẻ ATM bị cáo đã ném bỏ nên không thu hồi được.
Sau khi vụ việc xảy ra, anh Nguyễn Thành T3 lo sợ nên trả mặt bằng không tiếp tục kinh doanh. Ngày 06/01/2024, Ủy ban nhân phường A nay là phường T, quận N, thành phố Cần Thơ có văn bản kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N, thành phố Cần Thơ xử lý nghiêm các các bị cáo tham gia gây mất trật tự công cộng tại địa phương.
Về trách nhiệm dân sự: khi các bị cáo tấn công anh T3 đã làm hư một số bàn, ghế, vật dụng nhưng anh Nguyễn Thành T3 đã tự khắc phục, không yêu cầu bồi thường; riêng điện thoại Iphone 12 bị các bị cáo làm bể kính màn hình, gia đình của Nguyễn Thành L, Trương Anh L1 và Nguyễn Minh L3 đã bồi thường số tiền 1.500.000 đồng cho anh T3, anh T3 không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ ban hành Cáo trạng số: 183/CT-VKSNK ngày 03 tháng 10 năm 2024 truy tố các bị cáo Uthai Saen Nhật C, Bùi Quang H1, Phan Thành Đ, Nguyễn Thành L, Trương Anh L1, Nguyễn Minh L3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đã nêu trong cáo trạng của Viện kiểm sát đối với các bị cáo. Phân tích nguyên nhân, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng và nhân thân của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Đề nghị áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Uthai Saen Nhật C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
+ Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Quang H1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
+ Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm d, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thành Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt theo Bản án số: 30/2024/HS-ST, ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thành L; Trương Anh L1; Nguyễn Minh L3 và đề nghị xử phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu lưu hồ sơ: 01 (một) đĩa DVD trích từ camrera ghi lại hình ảnh các bị cáo tấn công bị hại tại quán cà phê của bị hại; 01 (một) cây dao rọc giấy do bị cáo Nhật C giao nộp.
- Trợ giúp viên pháp lý Bùi Thị Xuân T bào chữa cho bị cáo Uthai Saen Nhật C trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật truy tố. Tuy nhiên, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là tương đối nghiêm khắc đối với bị cáo Nhật C, bị cáo Nhật C không bàn bạc xúi giục để các bị cáo cùng nhóm thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án - tiền sự, bị cáo đang đi học, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Đề nghị áp dụng cho bị cáo Khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự bị cáo có nhân thân tốt, thực hiện chính sách pháp luật tại địa phương, đã khắc phục hậu quả, đề nghị xem xét không áp dụng điểm d khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bởi, bị cáo chỉ nhất thời không có ý thể hiện côn đồ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt bị cáo Nhật C được hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục học tập.
- Trợ giúp viên pháp lý Bùi Thị Xuân T bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành L trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật truy tố. Tuy nhiên, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là tương đối nghiêm khắc đối với bị cáo Nguyễn Thành L, bị cáo Nguyễn Thành L không bàn bạc xúi giục để các bị cáo cùng nhóm thực hiện hành vi phạm tội, trình độ học vấn thấp 9/12, vai trò trong vụ án không đáng kể. Bị cáo có nhân thân rõ ràng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi 06 tháng), đề nghị xem xét không áp dụng điểm d khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bởi, bị cáo chỉ nhất thời không có ý thể hiện côn đồ; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt bị cáo được hưởng thấp nhất để tạo điều kiện cho bị cáo làm công dân tốt.
- Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Chúc L2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh L3 và Trương Anh L1 trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật truy tố. Tuy nhiên, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo Trương Anh L1 và Nguyễn Minh L3. Bị cáo Trương Anh L1 và Nguyễn Minh L3 tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, khi thực hiện chưa đủ 18 tuổi. Hoàn cảnh gia đình của hai bị cáo khó khăn, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo có học vấn thấp nên việc nhận thức đối với hành vi còn hạn chế; đề nghị xem xét không áp dụng điểm d khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bởi, bị cáo chỉ nhất thời không có ý thể hiện côn đồ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt cho hai bị cáo được hưởng thấp nhất để tạo điều kiện cho bị cáo làm công dân tốt.
Đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận lời bào chữa của các Trợ giúp viên pháp lý đối với những vấn đề đề nghị, Công văn số 212/TATC, ngày 03/9/2019 đã giải thích khi áp dụng pháp luật trong trường hợp này Viện kiểm sát đã cân nhắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với các bị cáo là phù hợp với hiện trường, chứng cứ đã thu thập hợp pháp.
- Các bị cáo Uthai Saen Nhật C, Bùi Quang H1, Phan Thành Đ, Nguyễn Thành L, Trương Anh L1, Nguyễn Minh L3 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng các bị cáo và đương sự có liên quan không có ý kiến, khiếu nại. Nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận.
Vào ngày 01/5/2023 các bị cáo Uthai Saen Nhật C, Bùi Quang H1, Phan Thành Đ, Nguyễn Thành L, Trương Anh L1, Nguyễn Minh L3 có hành vi sử dụng hung khí như dao xếp, dao rọc giấy... sau đó di chuyển đến đường T, phường T (thuộc phường A trước khi sáp nhập 04 phường), quận N, thành phố Cần Thơ để tìm dàng sếp việc C nợ tiền của Nguyễn Thành T3 và tấn công tại quán của T3, H1 và Đ xông vào quán T3, H1 chửi tục lớn tiếng đe dọa T3, tay phải của H1 bật lưỡi dao xếp màu đen hình thẻ ATM xong tới đâm T3.
Các bị cáo tụ tập có hành vi đánh anh T3 và phá quán anh T3, tại vị trí quán của T3 trên đường T, gần trụ sở Công an phường, chợ A1 và gần trường học cấp 2 - 3, trường M2 thuộc phường T (trước sáp nhập là phường A) là nơi tập trung đông dân cư, có nhiều học sinh - trẻ em, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an và làm ảnh hưởng đến hình ảnh của trẻ em, của người dân cũng như sự phát triển của thành phố. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung “Dùng vũ khí, hung khí” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Từ những phân tích nêu trên cho thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi tụ tập dùng hung khí nguy hiểm đánh nhau là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần có hình phạt thật nghiêm khắc là cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục giúp các bị cáo thay đổi nhận thức, biết sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và qua hình phạt cũng để răn đe, trấn áp tội phạm tương tự.
Các bị cáo trong vụ án đều cố ý thực hiện hành vi phạm tội, việc phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không phân công nhiệm vụ cụ thể. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có hình phạt tương xứng.
Bị cáo Uthai Saen Nhật C là người khởi xướng việc tìm T3 để xử lý tiền nợ, bị cáo rủ rê lôi kéo bị cáo H1 tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải có mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác, có xem xét bị cáo khi thực hiện hành vi chưa đủ 18 tuổi.
Bị cáo H1 sau khi nhận được thông tin từ bị cáo Nhật C thì đã tham gia thực hiện hành vi phạm tội là người đủ tuổi không can ngăn mà thực hiện hành vi phạm tội cùng các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên hình phạt của bị cáo H1 tương thích với các bị cáo khác.
Bị cáo Phan Thành Đ rủ rê lôi kéo bị cáo Nguyễn Minh L3, Nguyễn Thành L và Trương Anh L1 đang uống cà phê cùng khi nghe H1 gọi, trong đó Đ là người rũ, xúi dục người dưới 18 tuổi nên hình phạt của bị cáo Đ sẽ cao hơn hình phạt của bị cáo khác.
Bị cáo Nguyễn Minh L3, Nguyễn Thành L và Trương Anh L1 đi cùng với bị cáo Đ, các bị cáo khi thực hiện hành vi là người dưới 18 tuổi nên mức hình phạt của các bị cáo được xem xét đối với người chưa thành niên phạm tội.
Riêng bị cáo có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Utai Saen Nhật C2, Nguyễn Minh L3, Nguyễn Thành L và Trương Anh L1 khi thực hiện hành vi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo UThai Saen Nhật C2, Bùi Quang H1, Phan Thành Đ, Nguyễn Minh L3, Nguyễn Thành L và Trương Anh L1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có người thân gia đình thực hiện các chính sách tại địa phương, tuổi đời còn nhỏ, đang là học sinh, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. UThai Saen Nhật C2 là con em người dân tộc Thái; Bị cáo Bùi Quang H1, bị cáo Phan Thành Đ gia đình có công cách mạng (Gia đình có nộp giấy chứng nhận, có Huân chương kháng chiến) H1 và Đ sau khi biết được UBND phường A nay là Thới Bình có đề nghị cơ quan thẩm quyền xử lý, hai bị cáo đã tích cực kêu các bị cáo khác giao nộp tang vật và ra trình diện để hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc giải quyết vụ án được kết thúc nên hai bị cáo được hưởng tỉnh tiết Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và theo quy định pháp luật Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cao H1 và Đ khi lượng hình.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về nhân thân, riêng bị cáo Phan Thành Đ có nhân thân đang bị xử phạt tại bản án số 30/2024/HS-ST, ngày 07/5/2024; bị cáo Nguyễn Thành L có 01 tiền sự ngày 17/4/2023 bị Công an quận T, thành phố Cần Thơ xử phạt cảnh cáo về hành vi “cất giữ vũ khí thô sơ nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng”
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thành T3 không yêu cầu bồi thường đối với các hư hỏng tại quán do các bị cáo xong vào quán đánh nhau, gây rối trật tự công cộng nên không đặt ra xem xét.
[6] Về các vấn đề khác: Không
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD trích từ camrera ghi lại hình ảnh các bị cáo tấn công bị hại tại quán cà phê của bị hại; 01 (một) cây dao rọc giấy do bị cáo Nhật C2 giao nộp.
[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ áp dụng: Điều 17; Điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố các bị cáo UThai Saen Nhật C2, Bùi Quang H1, Phan Thành Đ, Nguyễn Minh L3, Nguyễn Thành L và Trương Anh L1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Áp dụng đối với bị cáo UThai Saen Nhật C2: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Uthai Saen Nhật C2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-
Áp dụng đối với bị cáo Bùi Quang H1: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm d, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bùi Quang H1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-
Áp dụng đối với bị cáo Phan Thành Đ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm d, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Phan Thành Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành hai bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn phạt tù đối với bị cáo Đ được tính từ ngày 12 tháng 7 năm 2024.
-
Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thành L: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-
Áp dụng đối với bị cáo Trương Anh L1: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Trương Anh L1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-
Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Minh L3: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Minh L3 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD trích từ camrera ghi lại hình ảnh các bị cáo tấn công bị hại tại quán cà phê của bị hại; 01 (một) cây dao rọc giấy do bị cáo Nhật C2 giao nộp.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (23/01/2025) các bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thiên Bảo |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử Uthai Saen Nhật C2 1 năm 6 tháng tù
