|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 18/2025/HNGĐ - ST
Ngày 23 - 01 - 2025
V/v tranh chấp xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
—————————
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Quốc Trí
Ông Nguyễn Văn Sol
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 606/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Phạm Tấn V – sinh năm 1985 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
Bị đơn: Chị Lê Thị L – sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 8 năm 2024 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Phạm Tấn V trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị L quen biết và qua tìm hiểu nhau, quyết định xác lập mối quan hệ hôn nhân vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 142/2009 ngày 13 tháng 11 năm 2009. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng dần về vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng thường hay bất hòa và xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Hiện tại, anh và chị L không còn sống chung với nhau nữa, đã ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay. Nay anh xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị L.
Về con chung: Anh chị có một người con chung tên là Phạm Lê Gia B, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2012. Hiện nay, cháu Gia B đang sống với anh V. Khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, nợ riêng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Lê Thị L đã được Toà án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và cũng không gửi cho Toà án văn bản ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:
- Về thẩm quyền: Anh Phạm Tấn V nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị L. Khi khởi kiện, chị L cư trú tại ấp R, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tố tụng: Anh Phạm Tấn V có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V theo quy định khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Lê Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về nội dung:
- Về hôn nhân: Anh V và chị L tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142/2009 ngày 13 tháng 11 năm 2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
- Qua trình bày của anh V về nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh V và chị L, anh V yêu cầu được ly hôn với chị L. Chị L đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh V. Xét thấy, hôn nhân bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Hôn nhân giữa anh V và chị L mâu thuẫn trầm trọng, anh chị ly thân đã lâu, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh V yêu cầu được ly hôn với chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Về con chung: Anh V và chị L có một con chung là Phạm Lê Gia B, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2012. Hiện nay, cháu B do anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh V yêu cầu được tiếp tục trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B. Hội đồng xét xử xét thấy, chị L không có ý kiến gì về yêu cầu của anh V và hiện tại cháu B đang được anh V nuôi dưỡng. Đồng thời, tại Tờ trình bày ý kiến, nguyện vọng ngày 11 tháng 12 năm 2024 thì cháu B có nguyện vọng sống với anh V. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh V được nuôi con chung cháu B là chính đáng nên được chấp nhận. Giao cháu Phạm Lê Gia B, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2012 cho anh V tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Chị L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Anh V không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh Phạm Tấn V trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung, nợ riêng: Anh Phạm Tấn V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Phạm Tấn V phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các điều 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phạm Tấn V đối với chị Lê Thị L. Xử cho anh Phạm Tấn V được ly hôn với chị Lê Thị L.
-
Về con chung: Giao cháu Phạm Lê Gia B, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2012 cho anh Phạm Tấn V tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Lê Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lê Thị L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Anh Phạm Tấn V trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung, nợ riêng: Anh Phạm Tấn V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Tấn V phải chịu số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018777 ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Cà Mau. Anh Phạm Tấn V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy đinh tại các 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Chí Thêm |
Bản án số 18/2025/HNGĐ - ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 18/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho anh V được ly hôn với chị L