|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Thế - Nghề nghiệp: Viên chức. Nơi công tác: Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu;
- Ông Lò Văn Chiên - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS, ngày 28/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS, ngày 18/11/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn V, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 27/02/1996, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản P, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vàng Văn T, sinh năm 1978; mẹ đẻ: Lò Thị H, sinh năm 1975; vợ: Lương Thị S, sinh năm 1997 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án số: 50/2020/HS-ST, ngày 18/9/2020, của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, bị cáo bị xử phạt 01 năm, 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Tòng Thị T1 - Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.
- Người làm chứng: Chị Đồng Thị X, sinh năm 1981, địa chỉ: Bản P, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
- Người được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa:
Chị Đồng Thị H2, sinh năm 1984, địa chỉ: Bản P, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, là mẹ đẻ của cháu Đồng Thu H1, vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị T2 - Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Trường THPT P, điểm trường M, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ, ngày 04/6/2024, Vàng Văn V đi uống bia tại khu vực bản P, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Đến 02 giờ sáng ngày 05/6/2024, V đi bộ về nhà. Khi đi qua nhà chị Đồng Thị H2, tại bản Phiêng Đanh, V nảy sinh ý định vào nhà chị H2 để trộm cắp tài sản. Nhìn thấy nhà chị H2 đóng cửa, V đi ra phía sau, đi đến nhà sàn rồi để dép dưới cầu thang đi lên trên sàn. Thấy cửa nhà không khóa, V ở cửa đi vào rồi bật đèn pin trong điện thoại để tìm tài sản trộm cắp. Tìm quanh phòng khách không thấy gì, V đi vào trong phòng ngủ thì thấy cháu Đồng Thu H1, con gái chị H2, đang nằm ngủ, bên cạnh có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE. V tắt đèn pin trong chiếc điện thoại của V rồi cho điện thoại vào túi quần, sau đó cúi xuống, vén màn, với tay lấy chiếc điện thoại Iphone SE. Đúng lúc này, cháu H1 tỉnh giấc và hét lên. V thấy cháu H1 hét lên thì dùng tay trái bịt miệng cháu H1, nằm đè lên người cháu H1. Cháu H1 hoảng sợ và vùng vẫy, la hét. Lúc này, V nảy sinh ý định giao cấu với cháu H1. V dùng tay trái bịt miệng cháu H1, tay phải tụt quần ngoài, quần lót của cháu H1 xuống đến đầu gối, sau đó V tự cởi quần của mình để thực hiện hành vi giao cấu. Cháu H1 tiếp tục chống cự, la hét, cào, cấu, cắn vào vùng ngực, cổ tay V nên V không đưa được dương vật vào âm đạo của cháu H1. Nghe thấy tiếng la hét của cháu H1, chị Đồng Thị X là bác ruột của cháu H1 chạy sang hỏi cháu H1 bị làm sao. Thấy có người đến, V đứng dậy mặc quần vào rồi bỏ chạy ra ngoài. Chiều ngày 05/6/2024, cháu Đồng Thu H1 và chị Đồng Thị H2 trình báo sự việc. Hồi 18 giờ 05 phút, cùng ngày 05/6/2024, Vàng Văn V đến Công an xã M đầu thú. Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Vàng Văn V do Công an xã M lập ngày 05/6/2024, xác định 07 vết xước, vết cắn ở vùng ngực, cổ, tay của Vàng Văn V. V khai nhận, đây là các vết xước, vết cắn do cháu H1 cào, cắn gây ra.
Bản Kết luận giám định xâm hại tình dục số: 98/KLXHTD-TTPY, ngày 10/6/2024, của Trung tâm P1, Sở Y tế tỉnh L, kết luận: Bộ phận sinh dục ngoài của Đồng Thu H1 không bị tổn thương. Màng trinh: nguyên vẹn. Tại thời điểm giám định, Đồng Thu H1 không có thai. Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 99/KLTTCL-TTPYLC, ngày 10/6/2024, của Trung tâm P1, Sở Y tế tỉnh L, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đồng Thu H1 tại thời điểm giám định là: 1% (Một phần trăm).
thất về tinh thần số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, chị Đồng Thị H2 là mẹ đẻ của cháu Đồng Thu H1 nhất trí ý kiến của cháu H1 về mức yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo đúng quy định của pháp luật
Tại bản Cáo trạng số: 111/CT-VKSPT, ngày 28 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Văn V về tội: “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 4 Điều 141 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vàng Văn V phạm tội: “Hiếp dâm” theo khoản 4 Điều 141 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 4, khoản 5 Điều 141; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 15, 38, 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Văn V từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép xốp màu đen; 01 chiếc quần vải ống dài tối màu; 01 chiếc áo vải màu đen; 01 chiếc quần lót cạp chun màu vàng; 01 chiếc áo vải màu xanh. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE của cháu Đồng Thu H1, cơ quan điều tra đã trả lại cho cháu H1 là chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập xử lý. Về trách nhiệm dân sự, áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 592 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại số tiền là 20.000.000 đồng. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại hoàn toàn nhất trí quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo.
Ý kiến của đại diện Trường THPT P hoàn toàn nhất trí quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Vàng Văn V đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung đơn trình báo, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản thực nghiệm điều tra, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 02 giờ, ngày 05/6/2024, tại phòng ngủ của cháu Đồng Thu H1, trong nhà cháu H1, thuộc bản P, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn V đã thực hiện hành vi dùng vũ lực để quan hệ tình dục, giao cấu trái với ý muốn của cháu H1. Do cháu H1 la hét, chống cự lại nên V không thực hiện được hành vi giao cấu với cháu H1. Tại thời điểm V thực hiện hành vi phạm tội, cháu H1 có độ tuổi là 17 tuổi 09 tháng 01 ngày.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ dưới 18 tuổi, được pháp luật bảo vệ, vi phạm thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 4 Điều 141 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 4 Điều 141 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án:
Việc Vàng Văn V thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE của cháu Đồng Thu H1: Kết quả định giá tài sản xác định chiếc điện thoại này trị giá 833.000 đồng. Do giá trị tài sản bị trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, hành vi của Vàng Văn V trộm không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự nên không cấu thành tội phạm. Cơ quan Công an huyện P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vàng Văn V về hành vi này theo đúng quy định của pháp luật.
Khi Vàng Văn V thực hiện hành vi phạm tội đã gây thương tích cho cháu Đồng Thu H1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (dưới 31%) nên V không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 141 của Bộ luật Hình sự.
Việc cháu Đồng Thu H1 cào, cắn gây ra các vết xước ở vùng ngực, cổ, tay của Vàng Văn V. Đây là hành vi chống trả cần thiết của cháu H1 nên không xác định hành vi của cháu H1 có dấu hiệu phạm tội.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến xin lỗi bị hại, gia đình bị hại và ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Lai Châu xử phạt 01 năm, 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tự cảnh tỉnh bản thân, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật mà lại phạm tội.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 141 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần, số tiền là 20.000.000 đồng. Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 592 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 3 của Nghị định số: 73/2024/NĐ-CP, ngày 30/6/2024, của Chính phủ quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, quy định: Mức bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường tối đa không quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Từ ngày 01/7/2024, mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy mức yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại đưa ra là có căn cứ và phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý: Các vật chứng gồm: 01 đôi dép xốp màu đen; 01 chiếc quần vải ống dài tối màu; 01 chiếc áo vải màu đen; 01 chiếc quần lót cạp chun màu vàng; 01 chiếc áo vải màu xanh, đều là những vật không còn giá trị sử dụng, bị cáo và bị hại đều không có nguyện vọng nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE của cháu Đồng Thu H1, cơ quan điều tra đã trả lại cho cháu H1 là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 141; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 15, 38, 48, 57 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Vàng Văn V phạm tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 4 Điều 141 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vàng Văn V: 05 (Năm) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 141 của Bộ luật hình sự.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép xốp màu đen; 01 chiếc quần vải ống dài tối màu; 01 chiếc áo vải màu đen; 01 chiếc quần lót cạp chun màu vàng; 01 chiếc áo vải màu xanh; vỏ niêm phong.
(Vật chứng được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 08 giờ 00 phút, ngày 29/11/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Thời gian thi hành kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hiếp dâm
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ trái phép CMT
