Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hà Thị Thanh Liêm.
  2. Bà Quàng Thị Kim .

- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Quàng Văn Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 3 năm 1998 tại xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Quàng Văn Q1, sinh năm 1976 và bà Quàng Thị S, sinh năm 1973; vợ Lò Thị S1, sinh năm 2002; có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt từ ngày 23 tháng 7 năm 2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Lèo Văn M, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản S, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Quàng Thị P, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Quàng Văn B, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 05/6/2024, anh Lèo Văn M đi từ nhà tại bản S, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đến nhà anh Quàng Văn Q2, trú tại bản N, xã H, thành phố S để cùng nhau đi tìm mua bò tại xã C, thành phố S. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi mua được bò, anh M và anh Q2 đến quán của anh Q3 Văn Công ở bản N, xã H, thành phố S để chơi bi-a, uống bia. Tại đây, anh M và anh Q2 gặp anh Quàng Văn B và bị cáo Quàng Văn Q, cùng trú tại bản Nam, xã H, thành phố S, do có quen biết từ trước nên anh M, anh Q2, anh B và bị cáo Q đã uống bia với nhau.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Q2 đi về nhà, còn anh M, anh B và bị cáo Q rủ nhau đến nhà anh B để tiếp tục uống bia. Đến khoảng 01 giờ ngày 06/6/2024, khi cả ba người đang ăn uống ở nhà anh B thì giữa anh M và bị cáo Q xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, tranh luận với nhau về việc mua, bán bò. Q cho rằng anh M đã mua bò bị đắt khiến anh M bức xúc, chỉ ngón tay vào mặt Q và nói "Mày im mồn đi biết gì mà nói". Q thấy vậy đã hất tay anh M ra thì anh M đã dùng 2 tay túm lấy tay Q, hai bên gằng co, xô đẩy nhau. Sau đó, Q vung tay ra thoát khỏi tay anh M thì anh M dùng tay đẩy khoảng 02 đến 03 cái vào người Q và thách thức đánh nhau với Q. Q liền lấy chiếc cốc thuỷ tinh đang dùng để uống bia, cầm ở tay phải rồi vung lên đập 01 phát trúng vào vùng mặt bên phải của anh M làm chiếc cốc bị vỡ thành nhiều mảnh, anh M bị thương, chảy nhiều máu. Sau đó, anh B can ngăn nên sự việc kết thúc, anh B đưa anh M đến Bệnh viện đa khoa tỉnh S để chữa trị.

Đến ngày 07/6/2024 anh Lèo Văn K sinh năm 1992, trú tại bản Sàng Nà Tre, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (anh trai của anh Lèo Văn M) có đơn tố giác gửi đến Công an thành phố S đề nghị giải quyết.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường chung là nhà ở của anh Quàng Văn B tại bản N, xã H, thành phố S. Ngôi nhà được xây dựng trên diện tích 90m², thiết kế 01 tầng 01 tum, kiểu nhà cấp 4, phía trước nhà là khu vực sân vườn. Tầng 01 gồm 01 phòng khách, 04 phòng ngủ và 01 gian bếp. Phía Bắc giáp khu vực đất vườn nhà anh Quàng Văn D, phía Tây giáp khu vực vườn nhà anh Quàng Văn B, phía Nam là đường dân sinh bản Nam, giáp đất vườn nhà anh Quàng Văn T, phía Đông giáp đất vườn nhà ông Quàng Văn M1 và đường dân sinh bản Nam. Hiện trường cụ thể là khu vực phòng khách nhà anh B, có diện tích 5,4 x 5,4m được thiết kế cửa ra vào bằng gỗ có 04 cánh cửa mở ra ngoài, kích thước từng cánh là 2,15 x 0,53m. Tại vị trí giáp tường hướng Đ, cách mép cửa ra vào bên trái 40cm về hướng T được đặt 01 bộ kệ, tủ gỗ. Tại vị trí giáp tủ gỗ về hướng Bắc là cầu thang dẫn lên tum. Trong phòng khách có các cửa ra vào dẫn vào 04 phòng ngủ và 01 gian bếp. Phòng khách được lát đá họa tiết màu xanh trắng. Anh B xác định tại vị trí cách mép cửa ra vào bên trái 3,5m về hướng T, cách tường hướng Nam 1,5m là vị trí Quàng Văn Q đã đánh, gây thương tích cho anh Lèo Văn M. Quá trình khám nghiệm hiện trường không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 07/6/2024, anh Quàng Văn B giao nộp: 01 mảnh thủy tinh bị vỡ nham nhở, kích thước cao 04cm, đường kính miệng 7,4cm, đường kính đáy 06cm và trình bày là mảnh cốc thủy tinh vỡ mà Quàng Văn Q đã sử dụng để đánh gây thương tích cho anh Lèo Văn M vào ngày 06/6/2024 tại nhà anh B.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Lèo Văn M ngày 08/6/2024, ghi nhận: Tại khu vực má bên phải có 01 vết thương được khâu lại có kích thước 1cm x 9cm đã khô, không có dịch và 01 vết rách trên da kích thước 0,5 x 3cm; tại vị trí dưới mắt phải có 01 vết thương đã được khâu lại, kích thước dài 2,5cm đã khô, không có dịch; tại vị trí trên lông mày phải có 01 vết thương đã được khâu lại, kích thước dài 1,5cm, đã khô không có dịch; tại vùng thái dương phải có nhiều vết thương, vết xước trên da đã khô.

Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 949/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh S giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lèo Văn M. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 231/KLTTCT-TTPY ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S, kết luận: "Sẹo vết thương phần mềm thái dương phải (xếp: 01%); Sẹo vết thương phần mềm trán phải (xếp: 03%); Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt, mi mắt, má phải (xếp: 21%); Sẹo vết thương phần mềm vùng cổ sau bên phải (xếp: 04%).

Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lèo Văn M tại thời điểm giám định là: 27% (Hai mươi bẩy phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích sẹo vết thương phần mềm vùng đầu, mặt, cổ của Lèo Văn M do tác động trực tiếp của vật cứng có cạnh sắc, diện tiếp xúc giới hạn gây ra.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 504/CT - VKSTP ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Quàng Văn Q về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q từ 30 đến 36 tù nhưng có hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh thủy tinh bị vỡ nham nhở, kích thước cao 04cm, đường kính miệng 7,4cm, đường kính đáy 06cm.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015: Ghi nhận việc bị cáo và gia đình đã tự nguyện bôi thường về sức khỏe, viện phí cho bị hại số tiền 110.000.000 đồng, anh Lèo Văn M đã nhận đủ tiền không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn Q nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại anh Lèo Văn M và người làm chứng anh Quàng Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh M, anh B.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 05/6/2024 sau khi đã uống rượu bia say tại quán nhà anh Q3 Văn Công ở bản N, xã H, thành phố S. Anh M, anh B và bị cáo Q lại tiếp tục rủ nhau đến nhà anh B uống bia. Đến khoảng 01 giờ ngày 06/6/2024 do cả ba người đã say lại bức xúc vì bị cáo Q đã chê anh M mua bò đắt nên anh M đã chửi, thách thức, xô đẩy Q đã say không làm chủ được bản thân và cũng bức xúc trước lời nói và hành động của bị hại M, bị cáo Q cầm cái cốc thủy tinh đang dùng uống bia đập một nhát vào mặt bị hại gây thương tích, tỷ lệ thương tật là 27%.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội cùng vật chứng thu giữ; Phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm; Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường; Biên bản giao nộp đồ vật, tài liệu; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; Bản ảnh xem xét dấu vết trên thân thể của bị hại; Kết luận giám định pháp y về thương tích. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đối với bị hại, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo có khả năng nhận thức được hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện. Hành vi cầm chiếc cốc thủy tinh đập vào mặt bị hại gây thương tích cho anh Lèo Văn M với tỷ lệ thương tích cơ thể là 27% nên bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Sơn La truy tố về tội: "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo Quàng Văn Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của bị hại, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên được tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Căn cứ mức độ hành vi, hậu quả phạm tội, nhân thân bị cáo như nhận định ở trên, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có ý thức sửa chữa lỗi lầm nên không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo tại nơi cư trú dưới sự giám sát giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang bị tạm giam Hội đồng xét xử quyết định trả tự do ngay tại phiên tòa Quàng Văn Q, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác theo quy định khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

[7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường về sức khỏe, viện phí cho bị hại số tiền 110.000.000 đồng. Căn cứ Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa gia đình bị cáo, anh M đã nhận đủ tiền không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Đối với số tiền 110.000.000 đồng chị Quàng Thị P đã bồi thường cho bị hại thay bị cáo Q. Chị P cho rằng bị cáo là em ruột nên khi sự việc sảy ra chị P đã tự nguyện bồi thường thay bị cáo và không yêu cầu bị cáo hoàn trả, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 mảnh thủy tinh bị vỡ nham nhở, kích thước cao 04cm, đường kính miệng 7,4cm, đường kính đáy 06cm là những mảnh vỡ của chiếc cốc bị cáo ném gây thương tích cho bị hại vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo Quàng Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

    Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 32 (Ba mươi hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/11/2024).

    Trả tự do ngay tại phiên tòa Quàng Văn Q đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

    Giao bị cáo Quàng Văn Q về nơi thường trú Ủy ban nhân dân xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015: Ghi nhận việc gia đình bị cáo Quàng Văn Q đã bồi thường cho bị hại Lèo Văn M số tiền 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị P đã tự nguyện bồi thường cho bị hại thay bị cáo số tiền 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng), chị P không yêu cầu bị cáo hoàn trả. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh thủy tinh bị vỡ nham nhở, kích thước cao 04cm, đường kính miệng 7,4cm, đường kính đáy 06cm.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Bị cáo Quàng Văn Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/11/2024).

    Bị hại anh Lèo Văn M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (2);
  • - THADS thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
  • - THAPT (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn Q - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger