|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 24-11-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Phương và bà Bạc Thị Thanh Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày 01 tháng 4 năm 1975, tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 1; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Dương Thị G (đã chết); có vợ là Vũ Thị T1, sinh năm 1978 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 156/2017/HSST ngày 02/11/2017); năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 19/2019/HS-ST ngày 12/4/2019), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/8/2024 đến ngày 06/9/2024, tạm giam từ ngày 06/9/2024 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 20 giờ 00 phút, ngày 28 tháng 8 năm 2024 Công an huyện T phối hợp với tổ công tác theo Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Đ làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã C, huyện T, kiểm tra xe ô tô khách biển kiểm soát 29H-893.19 phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần dài màu đen bên phải của Nguyễn Văn T đang mặc 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, dạng bột nghi ma túy (loại Heroine).
Ngày 28/8/2024 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: Chất màu trắng dạng cục, bột thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,12 gam. Gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 1414/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng 0,12 gam là chất ma túy: Loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 28/8/2024 bị cáo đi bộ từ nhà ra ngoài đường và đi xe ôm đến bến xe khách thành phố Đ để đón xe khách đi xuống thành phố Hà Nội làm công nhân. Tại bến xe khách thành phố Đ, bị cáo mua được của một người đàn ông không biết họ, tên, địa chỉ, khoảng 45 tuổi, 01 (một) gói Heroine gói bằng nilon màu xanh với giá 50.000 đồng; việc mua bán chỉ có bị cáo và người đàn ông đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được ma túy bị cáo cất vào túi quần dài màu đen bên phải đang mặc đi vào bến xe khách. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo lên xe ô tô khách biển kiểm soát 29H-893.19 chạy tuyến Điện Biên – Hà Nội. Hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày khi xe ô tô khách đi đến bản T, xã C, huyện T thì tổ công tác Công an kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số: 163/CT-VKSTG ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine còn lại, 01 (một) mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không có lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 20 giờ 00 phút ngày 28/8/2024, tại bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Nguyễn Văn T bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,12 (không phẩy mười hai) gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi và khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ thì bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy, từng nhiều lần bị xét xử về tội phạm ma túy, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội, vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Năm 2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 156/2017/HSST ngày 02/11/2017); năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 19/2019/HS-ST ngày 12/4/2019), đến ngày 27 tháng 10 năm 2020 bị cáo chấp hành xong án phạt, tính đến ngày 28/8/2024 bị cáo phạm tội mới đã được xóa án tích. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, bị cáo là người nghiện ma túy, từng nhiều lần bị xét xử về tội phạm ma túy, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo, giúp bị cáo cai nghiện ma túy và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,07 gam Heroine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh nilon màu xanh, 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo là vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người bị kết án. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ, đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 28/8/2024. Do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024.
3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng của Phòng K - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 0,07 (không phẩy không bảy) gam Heroine.
- - 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu xanh và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 24/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Th - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
