TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CÔN ĐẢO TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 18/2024/HSST Ngày: 20-11-2024 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Lan
Bà Đoàn Thị Diệu Hiền
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Trung Tín -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh năm: 1971 tại Gia Lai; Hộ khẩu thường trú: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; C ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị R; Chồng: Ông Trình Văn S và có 03 con, con lớn sinh năm 1994 và con nhỏ sinh năm 2004; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có sáu chị em; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/8/2024 cho đến nay, “Có mặt”.
- Bị hại: Bà Lê Thị P, sinh năm: 1966 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Người làm chứng: Bà Đào Ngọc G, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/06/2024, do có mâu thuẫn từ trước, bà Lê Thị P nhìn thấy Nguyễn Thị T đang đi trên đường nội bộ bên hông chợ C1, thuộc khu dân cư S, huyện C thì hai bên lớn tiếng chửi nhau và xảy ra xô xát. Bà P cầm cây dù (ô che mưa) đánh T. Thấy vậy, chị Đào Ngọc G đến can ngăn nên T lên vỉa hè giáp khu chợ đêm C đi về. Bà P tiếp tục lao đến cầm cây dù đâm về phía T, T nhặt 01 (một) cục bê tông có kích thước 08 cm x 06 cm x 03 cm tại gốc cây trên vỉa hè đường Phạm Văn Đồng đập 01 (một) cái vào vùng trán bên trái của bà P gây thương tích. Người dân đi chợ can ngăn, đưa bà P được đưa lên Trung tâm y tế Q để điều trị thương tích.
Ngày 26/6/2024, bà Lê Thị P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để tố giác T về hành vi cố ý gây thương tích.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên (BLĐT: 48-59).
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 240/KLTTCT-PYBRVT ngày 04/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:
1. Các kết quả chính:
- - Kết quả khám giám định: Sẹo nhỏ vùng mặt.
- - Kết quả cận lâm sàng: Chưa thấy hình ảnh bất thường trên phim CT Scanner sọ não.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị
P tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Thương tích của nạn nhân được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau. Cơ chế: Va đập (BLĐT: 26-28).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ 01 (một) cục bê tông có kích thước 08 cm x 06 cm x 03 cm, màu xám do Nguyễn Thị T tự nguyện giao nộp. Đây là cục bê tông mà Nguyễn Thị T sử dụng làm hung khí đập gây thương tích đối với bà Lê Thị P vào ngày 24/6/2024 (BLĐT: 45).
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lê Thị P yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường số tiền 45.010.402đồng (Bốn mươi lăm triệu không trăm mười ngàn bốn trăm lẻ hai đồng), bao gồm các khoản:
- - Chi phí đi lại, khám và điều trị thương tích: 15.010.402 đồng (Mười lăm triệu không trăm mười ngàn bốn trăm lẻ hai đồng) (BLĐT: 63-77).
- - Bồi thường về tổn thất tinh thần: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) (BLĐT: 76).
Nguyễn Thị T đồng ý bồi thường số tiền chi phí đi lại, khám và điều trị thương tích 15.010.402đồng và bồi thường về tổn thất tinh thần số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng). Ngày 21/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ số tiền 15.100.000đồng do bị can T giao nộp để khắc phục hậu quả (BLĐT: 46 - 47, 58).
* Vật chứng hiện đang tạm giữ:
01 (một) cục bê tông có kích thước 08 cm x 06 cm x 03 cm, màu xám và 15.100.000đồng từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đến Chi Cục thi hành án dân sự huyện Côn Đảo bảo quản chờ xử lý theo quy định pháp luật.
* Đối với Lê Thị P có hành vi la hét, chửi bới, xô xát với Nguyễn Thị T gây mất trật tự tại chợ C1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyêt định xử phạt vi phạm hành chính theo quy đinh tại Điểm a, khoản 1, điều 7 Nghị định
144/2021/NĐ-CP ngày 13/12/2021 bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 400.000đồng.
* Đối với cây dù Lê Thị P sử dụng chọc vào bụng Nguyễn Thị T đã bị gãy trong lúc xô xát nên P đã bỏ vào xe rác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được (BLĐT: 84).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về Kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 21/CT-VKSCĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố Nguyễn Thị T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không oan sai.
Trong quá trình điều tra, bị hại Lê Thị P yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số 45.010.402đồng gồm: Chi phí điều trị thương tích 15.010.402đồng và bồi thường về tổn thất tinh thần 30.000.000đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị hại thay đổi yêu cầu về bồi thường tổn thất tinh thần chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000đồng.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 16 (mười sáu) tính từ ngày tuyên án.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cục bê tông có kích thước 08 cm x 06 cm x 03 cm, màu xám.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nên cần ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.
Bị hại bà Lê Thị P không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây tổn hại sức khỏe cho bị hại nên xin lỗi bị hại. Bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 08 giờ 30 ngày 24/6/2024, tại vỉa hè đương nội bộ tiếp giáp chợ C1 thuộc khu dân cư S, huyện C, bị cáo đã có hành vi dung hung khí nguy hiểm là 01 (một) cục bê tông kích thước 08 cm x 06 cm x 03 cm, màu xám đánh 01( một) cái vào vùng trán bên trái của bị hại Lê Thị P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% (Ba phần trăm). Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự xã hội ở địa phương, gây dư luận xấu và gây mang hoang lo sợ trong nhân dân. Vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng
với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành một công dân tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả và bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Về hình phạt: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà để giám sát, giáo dục tại cộng đồng cũng đủ điều kiện giúp bị cáo trở thành người có ích cho xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Lê Thị P yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số 45.010.402đồng gồm: Chi phí điều trị thương tích 15.010.402đồng và bồi thường về tổn thất tinh thân 30.000.000đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị hại thay đổi yêu cầu về bồi thường tổn thất tinh thần chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000đồng, tổng cộng hai khoản là 25.010.402đồng. Bị cáo chấp nhận bồi thường, vì vậy cần ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về phần trách nhiệm dân sự.
Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền bồi thường chi phí điều trị thương tích là 15.010.402đồng (Mười lăm triệu không trăm mười ngàn bốn trăm lẻ hai đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003310 ngày 17/10/2024, hiện
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang tạm giữ. Như vậy, bị cáo còn phải bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo giao trả số tiền 15.010.402đồng (Mười lăm triệu không trăm mười ngàn bốn trăm lẻ hai đồng) nêu trên cho bị hại.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 (một) cục bê tông có kích thước 08 cm x 06 cm x 03 cm, màu xám là hung khí gây án nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác:
- - Đối với Lê Thị P có hành vi la hét, chửi bới, xô xát với Nguyễn Thị T gây mất trật tự tại chợ C1: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146/QĐ-XPHC ngày 01/10/2024 với mức phạt tiền 400.000đồng (Bốn trăm ngàn đồng).
- - Đối với cây dù Lê Thị P sử dụng chọc vào bụng Nguyễn Thị T đã bị gãy trong lúc xô xát nên P đã bỏ vào xe rác. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị hại phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại không được chấp nhận.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/11/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Cơ quan thi hành án hình sự huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi
hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 590 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị T đồng ý bồi thường cho bị hại Lê Thị P số tiền 25.010.402đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 15.010.402đồng (Mười lăm triệu không trăm mười ngàn bốn trăm lẻ hai đồng), vì vậy bị cáo còn phải bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10.000.000đồng (Mườitriệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo giao trả cho bị hại số tiền bồi thường 15.010.402đồng (Mười lăm triệu không trăm mười ngàn bốn trăm lẻ hai đồng) hiện đang tạm giữ theo Biên lai thu tiền số 0003310 ngày 17/10/2024của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo.
* Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cục bê tông có kích thước 08 cm x 06 cm x 03 cm, màu xám.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2024).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng 1.450.000đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Dung |
Bản án số 18/2024/HSST ngày 20/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
