|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 18/2024/KDTM-ST
Ngày: 09/9/2024.
V/v “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
***
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tý
- Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 19/2024/TLST-KDTM ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần T; Địa chỉ trụ sở: Số A L, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng;
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Lam G; Chức vụ: Tổng Giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Ngọc M, sinh năm 1992; Chức vụ: Nhân viên (Theo giấy uỷ quyền số 05/UQ-TQ ngày 03 tháng 5 năm 2024)
- Bị đơn: Công ty cổ phần X; Địa chỉ: Tòa nhà T, Tầng C, số B Đ, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Dương H; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/5/2024 và văn bản trình bày ngày 09/9/2024 của Công ty cổ phần T, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Đinh Ngọc M trình bày:
Công ty cổ phần T là đơn vị thi công xây dựng theo Thỏa thuận Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD của Dự án Bệnh viện H1, Khối C giữa Công ty cổ phần T và Công ty cổ phần X ký ngày 27/05/2017. Tổng giá trị của Hợp Đ và Phụ lục 01,02,03,04 là 22.895.852.110 đồng (Hai mươi hai tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi hai ngàn, một trăm mười đồng).
Ngày 30/01/2018, Công ty cổ phần X và Công ty cổ phần T cùng Chủ đầu tư đã ký Biên bản nghiệm thu hoàn thành, bàn giao hạng mục công trình đưa vào sử dụng đối với hạng mục Kết cấu phần thô, xây tô, cán nền.
Ngày 27/08/2018, Công ty cổ phần X phát hành giấy Chứng nhận thanh toán lần quyết toán cho Công ty cổ phần T. Trong đó ghi rõ có giữ lại 5% của Công ty cổ phần T là 1.144.792.605 đồng (một tỷ, một trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi hai ngàn, sáu trăm lẻ năm đồng) thời gian bảo hành từ 30/01/2018 đến 30/01/2020.
Căn cứ theo Điều 7.8 Mục Tiền giữ lại thuộc Phần 2 Điều kiện riêng của Hợp Đồng thì Công ty cổ phần X đã giữ lại 5% Giá Trị Hợp đồng (tương ứng 1.144.792.605VNĐ) gọi là tiền bảo hành, việc hoàn trả cho Công ty cổ phần T được chia làm 02 đợt như sau:
Đợt 1: 2,5% giá trị bảo hành (tương ứng 572.396.303VNĐ) sẽ được thanh toán sau 12 tháng kể từ ngày Nghiệm thu Bàn giao đưa vào sử dụng.
Đợt 2: 2,5% giá trị bảo hành còn lại (tương ứng 572.396.303VNĐ) sẽ được thanh toán sau 24 tháng kể từ ngày Nghiệm thu Bàn giao đưa vào sử dụng.
Ngày 04/11/2019, Công ty cổ phần X thanh toán cho Công ty cổ phần T khoản tiền 572.396.303 đồng của Đ1 01 (trễ hơn 09 tháng so với ngày đến hạn là ngày 30/01/2019).
Liên tiếp vào các ngày 25/03/2020, ngày 22/06/2020, Công ty cổ phần T đã liên tục phát hành Công văn đề nghị Công ty cổ phần X thanh toán khoản tiền còn lại của Đ1 02 là 572.396.303 đồng.
Ngày 24/06/2020, Công ty cổ phần X đã có Công văn số 560.20.COR/LB03-FAD, theo đó sẽ thanh toán phần công nợ quá hạn thành 02 đợt từ tháng 07-08/2020 cho Công ty cổ phần T.
Ngày 21/07/2020, Công ty cổ phần X thanh toán được 72.396.303 đồng trong tổng số nợ là 572.396.303 đồng cho Công ty T, vẫn còn 500.000.000 đồng chưa được thanh toán.
Ngày 15/05/2023, Công ty cổ phần T và Công ty cổ phần X đã ký kết biên bản thỏa thuận về việc thanh toán công nợ, theo đó:
“Điều 1: Xác nhận công nợ
Sau khi đối chiếu công nợ, hai bên thông nhất xác định số nợ Bên B nợ Bên A số tiền nợ gốc (tiền bảo hành còn lại chưa thanh toán theo quy định của Hợp Đồng) là: 500.000.000 đồng.
Tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến hết 15/05/2023 (10%/năm) là: 155.739.738 đồng.
Điều 2: Thanh toán
Bên B cam kết sẽ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc được nêu tại Khoản 1 Điều 1 của Biên bản này thành 02 đợt, cụ thể:
Đợt 01: Thanh toán 250.000.000 đồng trước ngày 30/09/2023
Đợt 02: Thanh toán 250.000.000 đồng trước ngày 31/12/2023”
Sự cố tình chiếm dụng và không thanh toán khoản tiền 500.000.000 đồng không có căn cứ pháp luật của Công ty cổ phần X đã xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích của Công ty cổ phần T và vi phạm các quy định tại Điều 7.8 Mục Tiền giữ lại thuộc Phần 2 Điều kiện riêng của Hợp Đồng, Khoản 5 Điều 29 Nghị định 06/2021/NĐ-CP.
* Đối với yêu cầu về thanh toán lãi chậm thanh toán tính từ ngày chậm trả đến ngày Công ty cổ phần X thanh toán đủ các khoản nợ:
Ngày 24/06/2020, Công ty cổ phần X đã có Công văn số 560.20.COR/LB03-FAD, theo đó chấp nhận lãi suất chậm thanh toán với mức 10%/năm trên số tiền chậm thanh toán.
Căn cứ vào Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 306 Luật Thương mại 2005 thì Công ty cổ phần X phải thanh toán tiền lãi do hành vi chậm trả cho Công ty cổ phần T. Theo đó, khoản tiền lãi sẽ được tính với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm trả kể từ khi đến hạn thanh toán cho đến khi các khoản nợ được thanh toán đầy đủ cho Công ty cổ phần T. Số tiền lãi chậm trả tạm tính đến hết ngày 09/09/2024 là 221.767.135 đồng (Hai trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng).
Do đó, tại phiên tòa, Công ty cổ phần T đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết buộc Công ty cổ phần X thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/09/2024 là 721.767.135 đồng (B trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng), Trong đó: Tiền nợ chưa thanh toán là 500.000.000 đồng, lãi chậm thanh toán là 221.767.135 đồng.
Yêu cầu Công ty Cổ phần X tiếp tục thanh toán các khoản lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/09/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ gốc cho Công ty Cổ phần T.
Đối với bị đơn là Công ty cổ phần X, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng Công ty cổ phần X đều vắng mặt tại các phiên hòa giải, cũng như vắng mặt tại phiên Tòa (Có đơn xin vắng mặt). Vì vậy, Công ty cổ phần X không có lời trình bày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã giao nộp những tài liệu, chứng cứ sau: Nguyên đơn, Công ty Cổ phần T giao nộp: Bảng giá trị lãi chậm thanh toán (Gói thầu: Kết cấu phần thô, xây tô và cán nền – Bệnh Viện H1) (bản photo); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần M1 (đăng ký lần đầu ngày 05/5/2010, thay đổi lần thứ 10 ngày 27/4/2022) (bản photo); Giấy uỷ quyền số 05/UQ-TQ ngày 03/5/2024 (bản chính); Hoá đơn giá trị gia tăng số 0000142 ngày 30/7/2017 (bản photo); Hoá đơn giá trị gia tăng số 0000158 ngày 25/8/2017 (bản photo); Hoá đơn giá trị gia tăng số 0000191 ngày 18/10/2017 (bản photo); Hoá đơn giá trị gia tăng số 0000246 ngày 30/12/2017 (bản photo); Hoá đơn giá trị gia tăng số 0000029 ngày 07/02/2018 (bản photo); Hoá đơn giá trị gia tăng số 0000169 ngày 28/8/2018 (bản photo); Biên bản thoả thuận về việc thanh toán công nợ ngày 15/5/2023 (bản sao); Văn bản số 158/2020/CV-
GĐ/TGC ngày 22 tháng 6 năm 2020 (bản sao); Chứng từ giao dịch (bản photo); Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD ngày 27 tháng 5 năm 2017 (bản sao); Phụ lục Hợp đồng số 263.17.COC/LB03-PLD/02 ngày 20/9/2017; Bảng đơn giá và khối lượng (bản sao); Phụ lục Hợp đồng số 263.17.COC/LB03-PLD/03 ngày 25/9/2017; Bảng đơn giá và khối lượng (bản sao); Phụ lục Hợp đồng số 263.17.COC/LB03-CMD/01 ngày 26/06/2017 và bảng chào giá (bản sao); Phụ lục Hợp đồng số 263.17.COC/LB03-PLD/04 ngày 09/5/2018 (bản sao); Biên bản nghiệm thu hoàn thành, bàn giao hạng mục công trình đưa vào sử dụng số HDN/NTBGHMCTDVSD/LB-TQ ngày 30/01/2018 (bản sao); Văn bản số 56020COR/LB03-FAD ngày 24/06/2020 (bản sao); Chứng nhận thanh toán lần quyết toán ngày 27/8/2018 (bản sao); Văn bản số 166/2020/CV-GD/TQC năm 2020 (bản sao); Văn bản số 804.20.COR/LB03-FAD ngày 13/10/2020 (bản sao); 01 Căn cước công dân Đinh Ngọc M (bản sao); 01 Căn cước công dân Nguyễn Lam G (bản sao); Bảng trình bày ý kiến kèm bảng kê tính lãi đến ngày 09/9/2024; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần M1: 0309984285 (bản photo); Báo cáo tổng hợp về thông tin đăng ký doanh nghiệp mới nhất của Công ty cổ phần X (bản photo). Bị đơn, Công ty Cổ phần X giao nộp: Đơn xin vắng mặt ngày 25 tháng 6 năm 2024 (bản chính).
Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Văn bản cung cấp thông tin doanh nghiệp của Công ty Cổ phần X số 8255/ĐKKD-T6 ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn có ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm.
Đối với nội dung vụ án: đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 280, 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 306 của Luật Thương mại chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ phần T đối với bị đơn Công ty cổ phần X, buộc Công ty cổ phần X phải thanh toán cho Công ty cổ phần T tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 721.767.135 đồng (B trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng), trong đó: Tiền nợ gốc chưa thanh toán là 500.000.000 đồng, lãi chậm thanh toán là 221.767.135 đồng. Công ty cổ phần X tiếp tục thanh toán các khoản lãi chậm thanh toán kể từ ngày 10/09/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ gốc cho Công ty cổ phần T. Công ty Cổ phần X phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện, nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh, hợp đồng ký kết giữa hai bên đều nhằm mục đích lợi nhuận nên được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại về Hợp đồng kinh tế. Trong đó, Công ty cổ phần T khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần X thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng thầu phụ giữa các bên đã ký kết nên quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại được xác định là “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” qui định tại Điều 138 Luật Xây dựng 2014. Theo Điều 11 của Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD của Dự án Bệnh viện H1, Khối C ngày 27/05/2017 thì khi phát sinh tranh chấp, các bên đương sự sẽ đưa vụ, việc ra Trung tâm T1 bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam giải quyết. Tuy nhiên, tại Điều 3 Biên bản thoả thuận (V/v Thanh toán công nợ) ngày 15/5/2023, Công ty cổ phần T và Công ty cổ phần X đã cam kết quyền khởi kiện tại Tòa án nơi Hợp đồng được thực hiện. Căn cứ biên bản nghiệm thu số: HDN/NTBGHMCTDVSD/LB-TQ ngày 30/01/2018 xác định Bệnh viện H1 – Khối C, địa điểm xây dựng: Lô A N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Công ty cổ phần T và Công ty cổ phần X ký kết Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD ngày 27 tháng 5 năm 2017 với mục đích Công ty cổ phần X thuê Công ty cổ phần T thi công hạng mục kết cấu phần thô, xây tô, cán nền của Dự án Bệnh viện H1, Khối C. Hợp đồng này được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng trên cơ sở qui định tại các Điều 352, 357, 418 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 306 của Luật Thương mại; các Điều 138, 146 Luật Xây dựng 2014. Nay, Công ty cổ phần T khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần X trả tiền nợ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 352, 357, 418 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 306 của Luật Thương mại; các Điều 138, 146 Luật Xây dựng 2014 để giải quyết vụ án.
[3] Về thủ tục tố tụng:
Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án cho nguyên đơn Công ty cổ phần T và bị đơn Công ty cổ phần X. Tại phiên tòa, ông Đinh Ngọc M có mặt, Công ty Cổ phần X và người đại diện theo pháp luật vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin vắng mặt). Theo quy định tại Điều 222, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn Công ty cổ phần X.
[4] Nội dung vụ án:
[4.1] Về số tiền nợ gốc (tiền bảo hành còn lại chưa thanh toán theo quy định của Hợp Đồng):
Căn cứ theo Thỏa thuận Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD của Dự án Bệnh viện H1, Khối C giữa Công ty Cổ phần T và Công ty Cổ phần
X ký ngày 27/05/2017 thì tổng giá trị của Hợp Đ và Phụ lục 01,02,03,04 là 22.895.852.110 đồng (Hai mươi hai tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi hai ngàn, một trăm mười đồng). Ngày 30/01/2018, Công ty cổ phần X và Công ty cổ phần T cùng Chủ đầu tư đã ký Biên bản nghiệm thu hoàn thành, bàn giao hạng mục công trình đưa vào sử dụng đối với hạng mục Kết cấu phần thô, xây tô, cán nền. Ngày 27/08/2018, Công ty cổ phần X căn cứ theo Điều 7.8 Mục Tiền giữ lại thuộc Phần 2 Điều kiện riêng của Hợp Đồng và giấy Chứng nhận thanh toán lần quyết toán cho Công ty cổ phần T giữ lại của Công ty cổ phần T 5% giá trị Hợp đồng là 1.144.792.605 đồng gọi là tiền bảo hành, thời gian bảo hành từ ngày 30/01/2018 đến ngày 30/01/2020; việc hoàn trả được chia làm 02 đợt: Đợt 01: 2,5% giá trị bảo hành (tương ứng 572.396.303 đồng) sẽ được thanh toán vào ngày 30/01/2019, Đợt 02: 2,5% giá trị bảo hành còn lại (tương ứng 572.396.303 đồng) sẽ được thanh toán vào ngày 30/01/2020.
Theo lộ trình đã cam kết, Công ty cổ phần X đã thanh toán cho Công ty cổ phần T số tiền 572.396.303 đồng của Đ1 01 vào ngày 04/11/2019 và số tiền 72.396.303 đồng của Đợt 02 vào ngày 21/7/2020. Từ ngày 22/7/2020, Công ty cổ phần X không thanh toán thêm khoản tiền nào khác.
Ngày 15/05/2023, Công ty Cổ phần T và Công ty Cổ phần X đã ký kết biên bản thỏa thuận về việc thanh toán công nợ, theo đó: Công ty cổ phần X xác nhận còn nợ Công ty cổ phần T số tiền nợ gốc (tiền bảo hành còn lại chưa thanh toán theo quy định của Hợp Đồng) là: 500.000.000 đồng. Tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến hết 15/05/2023 (10%/năm) là: 155.739.738 đồng. Công ty cổ phần X xác nhận sẽ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng thành 02 đợt, cụ thể: Đợt 01 sẽ thanh toán 250.000.000 đồng trước ngày 30/09/2023 và Đ1 02 sẽ thanh toán 250.000.000 đồng trước ngày 31/12/2023. Từ sau khi ký kết biên bản thỏa thuận về việc thanh toán công nợ ngày 15/05/2023, Công ty cổ phần X vẫn tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Công ty cổ phần T như đã cam kết.
Do đó, căn cứ vào nội dung Biên bản thỏa thuận về việc thanh toán công nợ ngày 15/5/2023 giữa Công ty cổ phần T và Công ty cổ phần X, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T về việc buộc Công ty cổ phần X trả số tiền nợ gốc theo Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD của Dự án Bệnh viện H1, Khối C ngày 27/05/2017 là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) là có cơ sở chấp nhận, phù hợp quy định tại các Điều Điều 351, 352 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 138 Luật Xây dựng 2014.
[4.2] Về số tiền phạt do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán:
Ngày 24/06/2020, Công ty cổ phần X đã phát hành Văn bản số 560.20.COR/LB03-FAD, gửi đến Công ty cổ phần T để thông báo xác nhận lãi suất chậm thanh toán với mức 10%/năm trên số tiền chậm thanh toán.
Ngày 15/05/2023, Công ty cổ phần T và Công ty cổ phần X đã ký kết biên bản thỏa thuận về việc thanh toán công nợ, theo đó các bên ký kết biên bản đã thống nhất nội dung tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến hết 15/05/2023 (10%/năm) là 155.739.738 đồng (khoản 2 Điều 1 của biên bản); đồng thời thống nhất trường hợp Công ty cổ phần X vi phạm thời hạn thanh toán nợ như đã quy
định tại 02 đợt thanh toán thì Công ty cổ phần T sẽ tiếp tục tính lãi theo khoản 2 Điều 1 của biên bản cho đến khi Công ty cổ phần X hoàn tất việc thanh toán nợ (khoản 4 Điều 2 của biên bản thỏa thuận về việc thanh toán công nợ ngày 15/05/2023).
Căn cứ vào Thông báo số 01/2024/TBLS-KHDN ngày 04/9/2024 của Ngân hàng TMCP C, Thông báo số 932/BIDV.HV-KHDN ngày 05/9/2024 của Ngân hàng TMCP Đ2, Thông báo số 05.09.24/TB-VIB-ĐN ngày 05/9/2024 của Ngân hàng TMCP Q đã xác định được lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán là 11.5%/năm. Xét thấy, mức lãi suất chậm trả mà nguyên đơn yêu cầu 10%/năm cho số tiền chậm thanh toán là thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 357, 418 và 468 Bộ luật Dân sự; Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 và Biên bản thỏa thuận về việc thanh toán công nợ được ký ngày 15/5/2023 giữa Công ty cổ phần T và Công ty cổ phần X chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T về việc buộc Công ty cổ phần X trả tiền lãi chậm thanh toán của Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD ngày 27/5/2017 với mức lãi suất 10%/năm. Số tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của Công ty cổ phần X tạm tính từ ngày 16/5/2023 đến ngày 09/9/2024 (482 ngày) là: 482 ngày x (500.000.000₫ x 10% : 365 ngày) = 66.027.397 đồng (Sáu mươi sáu triệu, không trăm hai mươi bảy ngàn, ba trăm chín mươi bảy đồng).
Vậy, tổng số tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà Công ty Cổ phần X phải thanh toán cho Công ty cổ phần T tạm tính đến ngày 09/9/2024 được chấp nhận là: 155.739.738đ + 66.027.397đ = 221.767.135 đồng (Hai trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng)
Công ty cổ phần X phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi chậm thanh toán phát sinh từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ số nợ gốc cho Công ty cổ phần T.
[5] Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Công ty cổ phần X phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật; hoàn trả cho Công ty cổ phần T tiền tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp.
[6] Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40, 144, 147, 227, 228, 235, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 280, 352, 357, 418 và 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ các Điều 138, 146 Luật Xây dựng 2014;
Căn cứ các Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty cổ phần T đối với bị đơn là Công ty cổ phần X.
Buộc Công ty cổ phần X có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần T tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 09/9/2024 là 721.767.135 đồng (B trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng), Trong đó: Tiền nợ chưa thanh toán là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), lãi chậm thanh toán là 221.767.135 đồng (Hai trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng) đối với Hợp đồng thầu phụ số 263.17.COC/LB03-CMD ngày 27/05/2017.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/9/2024) cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên tự thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có sự thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: 32.870.685 đồng (Ba mươi hai triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, sáu trăm tám mươi lăm đồng)
Công ty cổ phần X phải chịu 32.870.685 đồng (Ba mươi hai triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, sáu trăm tám mươi lăm đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Công ty cổ phần T không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Công ty cổ phần T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.092.877 đồng (Mười sáu triệu, không trăm chín mươi hai ngàn, tám trăm bảy mươi bảy đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001263 ngày 31/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/9/2024). Các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Dũng |
Bản án số 18/2024/KDTM-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Số bản án: 18/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ" Công ty Cổ phần Thành Quân- Công ty Cổ phần LB Việt Nam
