|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 18/2024/HSST Ngày: 08-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Thủy
Bà Trần Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 24/06/2024, tại Phòng xét xử - trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 27/05/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 12/06/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 277/2024/HSST-QĐ ngày 24/06/2024 đối với bị cáo:
Đỗ Viết T; tên gọi khác: Ben; sinh ngày 28 tháng 11 năm 1989 tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn T, xã V huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ L và bà Lê Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/05/2024 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Trương Văn T1, sinh năm: 1969; Trú tại: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt và ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1976, địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế là vợ của ông Trương Văn T1 tham gia phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1976, địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Người làm chứng:
+ Ông Lê Hùng C, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
+ Ông Hoàng Vinh N1, sinh năm: 1967; Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Rạng sáng ngày 01/06/2023, Đỗ Viết T sau khi uống bia rượu cùng bạn tại bãi biển X thì về nằm nghỉ tại võng nơi chuẩn bị đua ghe của thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến khoảng 3 giờ cùng ngày T nhìn thấy Trương Văn T1 là người được giao nhiệm vụ bảo vệ ghe đua và phục vụ nước uống cho Ban tổ chức giải đua ghe đang nấu nước để pha mỳ tôm, liền hỏi T1 có ăn trứng vịt lộn không, nhưng T1 không trả lời, T đứng dậy tiếp tục hỏi lại cũng không thấy T1 trả lời. Lúc đó T lại gần chỗ T1 và hai bên có lời qua tiếng lại. T nói “bữa nay sao chảnh rứa cha”, T1 nói “mi uống say về mi quậy à”, T nói “tôi hỏi anh có ăn không để đi mua chứ quậy chi, nếu anh ưa quậy thì tôi quậy” và T cầm phích đựng nước màu đỏ trên bàn ném xuống đất. Lúc này T1 đang cầm ấm siêu tốc kim loại màu trắng giơ lên và nói “mi ngon thì đập tau đi”, T nói “tôi đập anh thiệt đó” rồi xông tới dùng tay đánh liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu và mặt của ông Trương Văn T1 làm ông T1 ngã xuống đất. Ông T1 nằm dưới đất khoảng 01 phút thì đứng dậy và đi đến võng cách đó 03 mét nằm, còn T đi đến bàn bê tông gần đó ngồi uống nước trà. Lúc này có ông Lê Hùng C đi đến ngồi cùng T, một lúc sau ông Hoàng Vinh N1, trưởng ban tổ chức vạn đua ghe đến để kiểm tra ghe đua và T có nói với ông N1 nghe chuyện T đánh ông T1. Sau đó ông N1 đi đến chỗ ông T1 nằm thì nghe ông T1 nói bị T đánh đau đầu quá và nhờ đưa đi bệnh viện. Ông N1 báo tin cho bà Nguyễn Thị N vợ ông T1, sau đó bà N đến, cùng T và cùng mọi người đưa ông T1 đi bệnh viện.
- Ngày 03/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y về tổn thương cơ thể của ông Trương Văn T1. Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số: 465-23/KLTTCT-GĐPY ngày 09/10/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T kết luận như sau:
- Chấn thương sọ não xuất huyết bán cầu phải đã điều trị phẫu thuật lấy máu tụ, hiện tại đang điều trị phục hồi chức năng vật lý trị liệu tại phòng khám P chức năng địa chỉ B T - Thành phố H, tình trạng bệnh đang cải thiện, chưa đánh giá di chứng chức năng. 27%
- Vết sẹo phẫu thuật vùng đầu phải. 2%
- Tổn thương não cũ ổ giảm tỷ trọng dịch hóa ở hố thái dương phải và vùng vành tia trái, thông và co kéo giãn não thất bên trái không xếp tỷ lệ”.
- Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn T1 tại thời điểm giám định là: 28% (Hai mươi tám phần trăm”.
- Vật gây thương tích: Tổn thương trên nạn nhân do vật tày tác động vào vùng đầu mặt.
- Ngày 17/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số: 15/QĐ-ĐTTH, trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trương Văn T1. Tại bản kết luận giám định bổ sung số: 52-24/KLTTCT-GĐPY ngày 26/01/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T kết luận như sau:
- Kết luận giám định lần đầu: Vết sẹo phẫu thuật vùng đầu phải. 2%
- Tổng hợp kết quả hai lần khám giám định: Chấn thương sọ não xuất huyết bán cầu phải đã điều trị phẫu thuật lấy máu tụ, hiện tại liệt nửa người trái mức độ vừa: 62%.
- Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn T1 tại thời điểm giám định là: 63% (Sáu mươi ba phần trăm).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 01 (một) thùng nhựa màu đỏ, trên có dòng chữ “TY LIEN”, kích thước: 43x28cm.
- 01 (một) ấm kim loại, trên có dòng chữ “MATYKA”, kích thước: 24x13cm.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Đỗ Viết T đã chi trả toàn bộ chi phí điều trị thương tích tại Bệnh viện T2 và các cơ sở phục hồi chức năng. Ngoài ra giữa người đại diện của bị hại ông Trương Văn T1 là bà Nguyễn Thị N và bị can còn có thỏa thuận phải bồi thường thêm cho ông Trương Văn T1 số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) bao gồm chi phí thuốc điều trị, tái khám, chi phí phục hồi chức năng, công lao động, tổn thất tinh thần. Bị cáo Đỗ Viết T đã bồi thường đủ số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) theo yêu cầu.
- Phía bị hại ông Trương Văn T1 và người đại diện của bị hại bà Nguyễn Thị N đã có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị can và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số: 18/CT-VKSPV ngày 24 tháng 05 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Đỗ Viết T về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xém xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm d khoản 04 Điều 134, điểm b,s khoản 01, khoản 02 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Viết T 6 năm đến 6 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về vật chứng gồm có: 01 (một) cái thùng nhựa màu đỏ, trên có dòng chữ “ TY LIEN”, kích thước: 43x28cm và 01 (một) cái ấm kim loại, trên có dòng chữ “MATYKA”, kích thước: 24x13cm. Đây là tài sản của ông Hoàng Vinh N1 (sinh ngày 12/4/1967, trú tại: Thôn T, xã V) là Trưởng ban Q đã mua sắm để phục vụ giải đua ghe và có yêu cầu xin nhận lại nên đề nghị trả lại đồ vật, tài sản đó cho ông Hoàng Vinh N1. Vậy áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị trả lại đồ vật, tài sản trên cho ông Hoàng Vinh N1.
Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Viết T đã chi trả toàn bộ chi phí điều trị thương tích tại Bệnh viện T2 và các cơ sở phục hồi chức năng. Ngoài ra giữa người đại diện cho bị hại là bà Nguyễn Thị N và bị can còn có thoả thuận phải bồi thường thêm cho ông Trương Văn T1 số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) bao gồm chi phí mua thuốc điều trị, tái khám, chi phí phục hồi chức năng, công lao động, tổn thất tinh thần. Đỗ Viết T đã bồi thường đủ số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) theo yêu cầu, bị hại và người đại diện của bị hại đã có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị can và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định luật tại Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTYQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại có giấy ủy quyền cho vợ là bà Nguyễn Thị N tham gia phiên tòa; người làm chứng: vắng mặt. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, những người trên đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Xét hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Rạng sáng ngày 01/06/2023, Đỗ Viết T sau khi uống bia rượu cùng bạn tại bãi biển X thì về nằm nghỉ tại võng nơi chuẩn bị đua ghe của thôn T, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại đây T có gặp ông Trương Văn T1 người được giao nhiệm vụ bảo vệ ghe đua và phục vụ nước uống cho ban tổ chức, lúc này T1 đang nấu nước pha mì tôm thì T hỏi T1 có ăn trứng vịt lộn không nhưng T1 không trả lời. T đứng dậy lại gần chỗ T1 và hỏi tiếp nhưng T1 vẫn không trả lời. Sau đó hai có lời qua tiếng lại, Đỗ Viết T dùng tay đánh liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu và mặt của ông Trương Văn T1 làm ông T1 ngã xuống đất. Sau đó ông T1 được người nhà và mọi người đưa đi bệnh viện. Hậu quả gây ra thương tích cho ông Trương Văn T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 63%.
Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Viết T có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 04 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố bị cáo Đỗ Viết T về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:
- Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội. Giữa bị cáo và bị hại là người cùng thôn, trước đó chưa từng có mâu thuẫn gì nhưng do bị cáo có sử dụng chất kích thích là bia rượu, dẫn đến khi mâu thuẫn nhỏ bị cáo đã không làm chủ được bản thân và đã có hành vi dùng tay đánh vào đầu và mặt của người bị hại là ông Trương Văn T1 làm ông T1 bị thương tích 63%. Do đó việc xử lý bị cáo trước pháp luật là cần thiết nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm gì ở địa phương. Đây là lần phạm tội đầu tiên của bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đã hối hận về hành vi của mình, tích cực khắc phục hậu quả, bị cáo đã đưa người bị hại đi cấp cứu, chăm sóc và chi trả toàn bộ tiền viện phí, chi trí chữa trị, vật lý trị liệu và tiền thuốc thang cho người bị hại. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
- Tình tiết tăng nặng: Quá trình điều tra, truy tố xác định Đỗ Viết T không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đỗ Viết T được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra người bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về biện pháp chấp hành hình phạt:
- Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, cần thấy phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mời có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả”, “người phạm tội thành khẩn khai báo” ngoài ra bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung vào năm 2017 do vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.
[5]. Về xử lý vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xét thấy vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) thùng nhựa màu đỏ, trên có dòng chữ “TY LIEN", kích thước: 43x28cm và 01 (một) ấm kim loại, trên có dòng chữ “MATYKA”, kích thước: 24x13cm.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Đỗ Viết T đã bồi thường cho bị hại ông Trương Văn T1 số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Ông Trương Văn T1 không có yêu cầu gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm d khoản 04, Điều 134; Bộ luật hình sự 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Viết T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm d, khoản 04, Điều 134; Điểm b,s khoản 01, khoản 02 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Viết T 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) thùng nhựa màu đỏ, trên có dòng chữ “TY LIEN”, kích thước: 43x28cm và 01 (một) ấm kim loại, trên có dòng chữ “MATYKA”, kích thước: 24x13cm.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số: 11/QĐ-VKSPV ngày 24/05/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Viết T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Bản án số 18/2024/HSST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Viết Tiến
