Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG


Bản án số: 18/2024/KDTM-ST

Ngày: 20-5-2024

V/v yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Ảnh

  • Ông Nguyễn Xuân Tùng

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 01/2024/TLST- KDTM ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc "Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-KDTM ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Công ty Cổ phần X. Địa chỉ : Số A V, quận C, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Công P– Chức vụ : Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn C – sinh năm 1982. Chức vụ: Trưởng phòng kinh doanh. Địa chỉ: Số A V, quận C, thành phố Đà Nẵng, TP Đà Nẵng tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 04/3/2024, ông C có mặt.

  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu H- Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: Số A T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

  • - Bị đơn: Công ty TNHH X. Địa chỉ: H K đường B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thiện B– Chức vụ : Giám đốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần X – ông Nguyễn C trình bày:

Ngày 10/08/2017, Bê tông X – Chi nhánh Công ty Cổ phần X và Công ty TNHH X cùng ký kết Hợp đồng kinh tế số 08/HĐ-BT/2017 về việc Công ty TNHH X chấp nhận cung ứng bê tông thương phẩm cho dự án với đơn giá và nội dung chi tiết theo thỏa thuận trong Hợp đồng.

Sau khi ký kết Hợp đồng, Bê tông L đã thực hiện công việc theo thoả thuận của Hợp đồng. Tính đến ngày 30/01/2022, Công ty TNHH X còn nợ Công ty cổ phần X số tiền là 132.385.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi hai triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Ngày 01/8/2023, hai bên ký xác nhận Biên bản đối chiếu công nợ. Sauk hi đối chiếu công nợ, Công ty cổ phần X đã nhiều lần liên lạc và đề nghị thanh toán nhưng Công ty TNHH X vẫn chưa thanh toán cho Bê tông L số tiền trên.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi của Công ty Cổ phần X, ngày 05/12/2023, Công ty Cổ phần X đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Hải Châu để yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH X thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền là 138.073.021 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi tám triệu, không trăm bảy mươi ba nghìn, không trăm hai mươi mốt đồng), (bao gồm nợ gốc và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 05/12/2023, tiền lãi chậm trả tính theo lãi suất vay quá hạn của ngân hàng E là 8,5%*150%)). Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần X xin thay đổi nội dung khởi kiện, Công ty Cổ phần X chỉ yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty TNHH X thanh toán số tiền nợ gốc là: 132.385.000 đồng, không yêu cầu giải quyết về tiền lãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thu H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Tại nội dung bản luận cứ ngày 16/5/2024 bà H thống nhất với trình bày của nguyên đơn và không có ý kiến bổ sung gì và đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn Công ty TNHH X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng bị đơn không chấp hành, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có tài liệu lưu tại hồ sơ vụ án.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án. Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Toà án căn cứ Điều 55 Luật Thương mại 2005 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH X phải thanh toán cho Công ty cổ phần X số tiền nợ gốc 132.385.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 điều 30; điểm b khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện, cụ thể nội dung thay đổi là không yêu cầu Công ty TNHH X phải trả số tiền lãi phát sinh. Xét việc thay đổi yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.

Bị đơn Công ty TNHH X đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Ngày 10/08/2017, Công ty Cổ phần X và Công ty TNHH X cùng ký kết Hợp đồng kinh tế số 08/HĐ-BT/2017về việc Công ty X đặt hàng và Công ty Cổ phần X chấp nhận cung ứng bê tông thương phẩm cho dự án với đơn giá và nội dung chi tiết theo thỏa thuận trong Hợp đồng. Sau khi ký kết Hợp đồng, Bê tông L đã thực hiện công việc theo thoả thuận của Hợp đồng. Tính đến ngày 30/01/2022, Công ty TNHH X còn nợ Công ty cổ phần X số tiền là 132.385.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi hai triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn đồng) và ngày 01/8/2023, Công ty TNHH X đã ký Biên bản đối chiếu công nợ số tiền nêu trên. Sau khi đối chiếu công nợ, Công ty cổ phần X đã nhiều lần liên lạc và đề nghị thanh toán nhưng Công ty TNHH X vẫn chưa thanh toán. Do đó, Công ty Cổ phần X khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty TNHH X thanh toán số tiền nợ gốc là: 132.385.000 đồng, không yêu cầu Toà án giải quyết tiền lãi.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Việc mua bán hàng hóa giữa Công ty Cổ phần X và Công ty TNHH X được thể hiện bằng Hợp đồng kinh tế số 08/HĐ-BT/2017 ngày 10/8/2017 là phù hợp với Điều 24 Luật Thương mại và các bên phải có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 01/8/2023 Công ty TNHH X đã ký biên bản đối chiếu công nợ, xác định số tiền còn nợ Công ty Cổ phần X là 132.385.000 đồng nhưng không chịu thanh toán cho Công ty Cổ phần X là vi phạm về nghĩa vụ thanh toán theo Điều 50 Luật Thương mại và Điều 280 Bộ luật dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên cần buộc Công ty TNHH X phải thanh toán cho Công ty Cổ phần X số tiền 132.385.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền lãi phát sinh. Xét đây là ý chí của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét giải quyết về tiền lãi phát sinh.

Đối với bị đơn Công ty TNHH X không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ đó.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 50 của Luật Thương mại 2005;

Căn cứ Điều 280, 357 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần X với bị đơn Công ty TNHH X về việc "Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền".

Xử:

  1. Buộc Công ty TNHH X phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần X số tiền 132.385.000 đ(Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm tám mươi lăm ngàn đồng y).

    Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.

  2. Án phí:

    Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm Công ty TNHH X phải chịu là 6.619.250₫ (Sáu triệu sáu trăm mười chín ngàn hai trăm năm mươi đồng).

    Hoàn trả cho Công ty Cổ phần X số tiền tạm ứng án phí 3.451.826₫ (Ba triệu bốn trăm năm mươi mốt ngàn tám trăm hai mươi sáu đồng) theo biên lai thu số 0000155 ngày 28/12/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

  3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc trích sao bản án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/KDTM-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 18/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger