Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS - ST

Ngày 17/4/2024

V/v tranh chấp thừa kế và

hủy quyết định cá biệt

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ

Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 17/4/2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 127/2022/TLST-DS ngày 30/11/2022 về tranh chấp thừa kế và yêu cầu hủy quyết định cá biệt theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2023/QĐXXST- DS ngày 29/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Anh K, sinh năm 1954. Có mặt.

Địa chỉ: xóm B xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn:

- Bà Phan Thị S, sinh năm 1954. (Có mặt khi xét xử - Vắng mặt khi tuyên án).

Địa chỉ: xóm B xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lê Thị H, anh Lê Văn H1, chị Hoàng Thị P (chị P ủy quyền cho anh H1). Có mặt.

Đều trú tại: xóm B xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

- Chị Lê Thị H2. Địa chỉ: số I khu phố B, phường B, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Anh Lê Văn H3. (Có mặt khi xét xử - Vắng mặt khi tuyên án).

Địa chỉ: xóm B xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

+ Ông Văn Đình Ấ, sinh năm 1944. (Có mặt khi xét xử - Vắng mặt khi tuyên án).

+ Chị Văn Thị T, sinh năm 1975.

+ Anh Văn Đình T1, sinh năm 1977.

+ Anh Văn Đình B, sinh năm 1992.

Đều trú tại: xóm T, xã T, T, Nghệ An.

+ Chị Văn Thị H4, sinh năm 1985.

Trú tại: Thôn G, xã T, T, Nghệ An.

+ Chị Văn Thị M.

Trú tại: xóm T, xã T, huyện T, Nghệ An.

Chị T, anh T1, anh B, chị H4, chị M – đều vắng mặt).

+ Bà Lê Thị C, sinh năm 1958. (Ủy quyền cho ông K). (Có mặt khi xét xử - Vắng mặt khi tuyên án).

Địa chỉ: xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

+ Ông Lê Văn K1, sinh năm 1962. (Ủy quyền cho ông K). Có mặt.

Địa chỉ: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

+ Bà Lê Thị T2, sinh năm 1964. (Ủy quyền cho ông K). Vắng mặt.

Địa chỉ: xóm P, xã T, huyện T, Nghệ An.

+ Bà Lê Thị X, sinh năm 1970. (Ủy quyền cho ông K). Có mặt.

Địa chỉ: xóm G, xã T, T, Nghệ An.

+ Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1956. (Có mặt khi xét xử - Vắng mặt khi tuyên án).

+ Ông Lê Văn M1, sinh năm 1978. (Ủy quyền cho ông K). Có mặt.

Đều trú tại: xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

+ Bà Trần Thị T3, sinh năm 1968. Có mặt.

+ Anh Lê Văn C1, sinh năm 1992. + Anh Lê Văn D, sinh năm 1995. + Anh Lê Văn Q, sinh năm 2003. (Ủy quyền cho bà Trần Thị T3)

Đều trú tại: xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

+ Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An. Ông Lê Đình T4, Phó Chủ tịch huyện T, tỉnh Nghệ An đại diện. Đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Lê Anh K khởi kiện có nội dung như sau: Bố mẹ ông K là cụ Lê Văn Q1 (chết năm 1985) và cụ Nguyễn Thị E (chết năm 2005). Cụ Q1, cụ E có 10 người con là: (1) ông Lê Anh K, sinh năm 1954, (2) ông Lê Quốc V (đã chết năm 2018) có vợ là bà Phan Thị S và các con Lê Thị H, Lê Thị H2, Lê Văn H1, Lê Văn H3; (3) bà Lê Thị N (đã chết), chồng bà N là ông Văn Đình Ấ, các con là Văn Thị T, Văn Đình T1, Văn Thị H4, Văn Thị M, Văn Đình B; (4) bà Lê Thị C, sinh năm 1958, (5) ông Lê Văn K1, sinh năm 1962; (6) ông Lê Văn Đ (7) bà Lê Thị T2, sinh năm 1964, (8) ông Lê Văn T5 (đã chết) có vợ là Trần Thị T3 và các con Lê Văn C1, Lê Văn D, Lê Văn Q; (9) bà Lê Thị X, sinh năm 1956; (10) ông Lê Văn M1, sinh năm 1976.

Cụ Q1, cụ E có thửa đất số 153 (quá trình tố tụng đương sự sửa đổi là thửa số 143), tờ bản đồ số 15, tại xóm B, xã T. Nguồn gốc sử dụng từ trước năm 1975. Năm 1985, cụ Q1 mất. Năm 1995, gia đình anh trai là Lê Quốc V về sống chung cùng cụ E. Thời điểm đó trong nhà có cụ E và ông Lê Văn M1 (là con út). Năm 2010, ông M1 lập gia đình và ở riêng. Nhà cửa của bố mẹ vẫn để làm chỗ thờ cúng và đất đai gia đình ông Lê Quốc V sử dụng.

Năm 2018, ông Lê Quốc V chết. Năm 2020, bà Phan Thị S và anh Lê Văn H1 tự ý dỡ nhà cũ của cụ Q1, cụ E để xây dựng nhà mới, ông K đã đứng ra ngăn cản, nhưng bà S và anh H1 hứa hẹn với ông Lê Văn M1 sau khi dỡ sẽ chung tay với mọi người xây dựng lại nhà cũ như ban đầu. Sau khi bà S, anh H1 xây nhà xong thì mọi người bàn việc xây nhà lại cho cha mẹ thì bà S và các con đổi ý không chịu góp tiền.

Tháng 2/2021, anh em đã góp tiền xây, sửa lại nhà 03 gian cũ của cha mẹ.

Tháng 2/2022, đang tiến hành làm thì bà S, anh H1 ngăn cản, với lý do là thửa đất đã được cấp GCNQSD đất cho ông Lê Quốc V, lúc đó anh chị em mới biết đất đã được cấp GCNQSD đất cho ông V.

Khi bố mẹ mất không để lại di chúc, anh chị em cũng chưa phân chia thừa kế. Tuy nhiên, thửa đất đã đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đất cho ông Lê Quốc V ngày 06/01/1996.

Ông Lê Anh K yêu cầu: Phân chia thừa kế thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15, xóm B, xã T, huyện T; hủy GCNQSD đất số M367375 do UBND huyện T cấp cho ông Lê Quốc V ngày 06/01/1996 đối với thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15 và các quyết định liên quan đến thửa đất tranh chấp.

Bị đơn là bà Phan Thị S và anh Lê Văn H1 trình bày: Nguồn gốc thửa đất là của ông bà cố, để lại cho ông Lê Văn Q1 và bà Nguyễn Thị E là bố mẹ ông V, ông K (có 10 anh chị em). Việc kê khai cấp bìa năm 1996 là do ông V, bà E; năm 2015 cấp bìa mới do ông V đi làm. Toàn bộ diện tích cấp bìa năm 1996 là của là toàn bộ phần đất ông V.

Khi ông Q1 chết năm 1985, trên đất nhà ngói ba gian một hồi nhưng mới lợp được một phần ngói chưa xong; có một cái ràn cũ và cây bụi xung quanh, tài sản bò, lợn gà sinh sống hàng ngày.

Thời điểm sau khi ông Q2 chết, trong nhà có ông Lê Văn K1, ông Lê Văn T5, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị X, ông Lê Văn M1 và mẹ là Nguyễn Thị E, còn gia đình ông V, bà S ở nơi khác. Đến năm 1992, ông V và vợ con mới dọn về ở cùng bà E vì các anh chị em không ai chịu về ở cùng. Lúc ông V, bà S về ở cùng, trong nhà chỉ có anh M1 và bà Nguyễn Thị E. Tài sản lúc đó chỉ có nhà cũ 03 gian dột nát, ngoài ra không có gì khác. Quá trình sinh sống thì gia đình bà đã sửa chữa cái nhà 03 gian, còn các tài sản khác thì đã tiêu dùng hoặc hư hỏng hết.

Năm 2005 bà E mất, lúc đó trên đất có nhà 3 gian gỗ cũ của ông Q1, bà E để lại được ông V, bà S tôn tạo; một nhà gỗ ông V, bà S làm; một nhà thờ do ông V và các anh chị em làm năm 1998, gồm: ông V, ông Đ, chú T5, chú K1, còn M1 lúc đó còn nhỏ sống trong gia đình cùng vợ chồng ông V, các chị em gái cũng có qua lại, góp công làm nhà thờ còn con trai thì góp theo suất đinh con cháu ông Q1, bà E, là nơi thờ tự tổ tiên, tính đến ông V và các anh chị em là đời thứ 5. Sổ sách ghi chép làm nhà thờ không có nhưng theo bà S thì anh em góp chưa đầy đủ. Ông Lê Anh K không tham gia xây dựng nhà thờ này.

Đến năm 2006, ông Lê Văn M1 lấy vợ và sống chung trong gia đình. đến năm 2010 thì ông M1 và vợ con đi ở nơi khác.

Bà Phan Thị S, trình bày, năm 1992, lúc đó bà E đã già, chú M1 còn nhỏ bà E lên gọi ông V về ở bàn giao nhà cửa ruộng vườn cho ông V quản lý, hương khói thờ cúng tổ tiên, nuôi em M1.

Bà Phan Thị S không đồng ý chia thừa kế. Lý do: đất của ông Lê Quốc V để lại cho vợ con, sinh sống đã lâu nên không đồng ý chia thừa kế. Trường hợp xác định phải chia thừa kết đất của ông Q1, bà E thì phải tính công sức tôn tạo, quản lý tài sản và giá trị tài sản trên đất hiện tại.

Hiện tại trên đất bây giờ có: Một nhà thờ xây dựng năm 1998; một căn nhà gỗ 03 gian từ thời ông Q1 bà E để lại, được tu sửa cải tạo nhiều lần, đến năm 2021 do các chú tự ý đến cải tạo lại; một nhà cấp 4 đổ mái bê tông do anh H1 làm năm 2020; mái tôn xung quanh nhà cấp 4, công trình phụ kèm theo; chuồng trâu bò, lợn gà. Hàng rào do anh H1 xây dựng từ năm 2014. Khu vực nhà thờ, nhà gỗ cũ và khu vực nhà anh H1, bà S sinh sống có một hàng rào ngăn cách; do các o, các chú tự ý đến xây tháng 3/2021. Khu vực nhà thờ hiện do anh H1, bà S quản lý, không khóa để con cháu ra vào thắp hương.

Chị Lê Thị H2, anh Lê Văn H1, anh Lê Văn H3, chị Hoàng Thị P (vợ anh H1), ông Văn Đình Ấ, ông Lê Văn Đ thống nhất như ý kiến của bà Phan Thị S.

Bà Lê Thị C, ông Lê Văn K1, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị X, bà Trần Thị T3, thống nhất như yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh K.

Ủy ban nhân dân huyện T xác định: Việc cấp GCNQSD đất cho ông Lê Quốc V năm 1996 là đúng quy định tại khoản 1, Điều 2, Điều 36, Điều 52, 53, 54 Luật Đất đai năm 1993. Hiện GCNQSD đất này vẫn còn hiệu lực vì còn 01 số thửa đất chưa thực hiện cấp đổi. Thửa đất số 401, tờ bản đồ số 39, diện tích 916,3 m² đã được cấp GCQSD đất số BY 882478 ngày 16/5/2016 cho ông Lê Quốc V, bà Phan Thị S.

Kết quả xác minh tại UBND xã T: Nguồn gốc thửa đất là của cố Lê Văn K2 và cố Đậu Thị Á, sau đó cụ Lê Văn Q1 và cụ Nguyễn Thị E sử dụng. Năm 1996, ông Lê Quốc V kê khai đăng ký cấp GCNQSD đất số M 367375, ngày 06/01/1996 theo Nghị định số 64 đối với thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15, diện tích 756 m², mục đích sử dụng là đất vườn.

Tại bản đồ địa chính thế hiện thửa đất số 143, diện tích 785 m²; trang sổ mục kê diện tích 300 m² đất ở; 485 m² đất vườn.

Năm 2010, thực hiện đo đạc bản đồ địa chính, thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15 được thể hiện là thửa số 401, tờ bản đồ số 39, diện tích 916,3 m², kê khai mang tên ông Lê Quốc V, bà Phan Thị S, năm 2015 cấp GCNQSD đất số BY 882478 ngày 16/5/2016, diện tích đất ở 300 m², đất vườn 616,3 m². Qua đối chiếu vị trí bản đồ thì thửa đất số 401, tờ bản đồ số 39 hiện nay là thửa số 143 tờ bản đồ số 15 trước đây.

Lý do diện tích tăng so với trước đây là do sai số đo đạc; gia đình không tranh chấp hay lấn chiếm đất công hay lấn chiếm các thửa đất xung quanh.

Kết quả thẩm định, định giá:

Thửa đất số 143 (do xác định sai theo đơn là 153), tờ bản đồ số 15, xã T, đơn giá đất ở 800.000 đồng/m²; đất vườn 36.000 đồng/m²; cây cau 35.000 đồng; cây đu đủ 30.000 đồng; cây quất 200.000 đồng; nhà ở mái bê tông cốt theo 4.680.000 đồng/m²; trụ cổng bê tông 880.000 đồng/mét; cửa cổng sắt hộp 1.100.000 đồng/m²; nhà tắm, nhà vệ sinh 5.460.000 đồng/m²; công trình phụ làm bằng vật liệu khó cháy 680.000 đồng/m²; bếp lợp mái ngói 680.000 đồng/m²; chuồng trại chăn nuôi bằng vật liệu khó cháy 740.000 đồng/m²; mái tôn giá 375.000 đồng/m²; giếng khơi 1.317.000 đồng/mét sâu; giếng khoan 10.500.000 đồng/giếng; trụ cổng 682.000 đồng/mét dài; cửa sắt hộp nhỏ giá 550.000 đồng/m²; nhà cột gỗ kê mái ngói giá 3.130.000 đồng/m²; nhà cột gỗ kê mái ngói xây năm 1998 giá 1.565.000 đồng/m².

Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu chia phần di sản thừa kế của cụ E để lại, không yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Q1 do đã hết thời hiệu, nguyên đơn và người liên quan cùng phía đề nghị gộp 7 suất thừa kế của nguyên đơn (ông K), ông K1, ông M1, bà T2, bà C, ông T5, bà X thành một phần và giao cho ông K. Bị đơn và người liên quan cùng phía cũng yêu cầu áp dụng thời hiệu nhưng không nhất trí yêu cầu chia thừa kế và hủy GCNQSD đất, trường hợp phải chia thì đề nghị gộp 3 suất thừa kế của bà N, ông V, ông Đ và giao cho bà S.

Đối với phần tài sản trên đất, các đương sự thống nhất, nếu chia thì phần tài sản của ai trên đất thì người đó được hưởng, đề nghị không tháo dỡ các gian làm nhà thờ. Các bên được hưởng phần chênh lệch về giá trị tài sản.

Các tài sản trên đất, các bên thống nhất được là do ai tạo lập; chỉ tranh chấp đối với 02 gian nhà thờ: cụ thể, nhà thờ làm năm 1998 do anh chị em (trừ ông K) cùng xây dựng và gian nhà cũ của cụ Q1, cụ E để lại nhưng đã được ông V, bà S tôn tạo nhiều lần. Đề nghị xem xét phân chia giá trị 02 tài sản này. Tuy nhiên, các đương sự không cung cấp được tài liệu chứng cứ về việc xây dựng hai tài sản này.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: TAND tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy quyết định cá biệt” là phù hợp với yêu cầu của đương sự. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: thửa đất số 401, tờ bản đồ số 39, diện tích 916,3m² xã T, huyện T do cụ Lê Văn Q1, Nguyễn Thị E để lại là di sản thừa kế cụ Q1, cụ E để lại cho các đồng thừa kế chưa chia, việc UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Quốc V năm 1996 và cấp đổi năm 2016 là không đúng; có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về chia thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 882478. Chấp nhận ý kiến đương sự về việc yêu cầu thời hiệu đối với phần di sản của cụ Q1; phân chia phần di sản của cụ E để lại, gộp 7 suất thừa kế của nguyên đơn (ông K), ông K1, ông M1, bà T2, bà C, ông T5, bà X thành một phần; gộp 3 suất thừa kế của bà N, ông V, ông Đ vào một phần.

Ngoài ra, trên thửa đất còn có 02 ngôi nhà thờ đang được nguyên đơn, bị đơn sử dụng vào việc thờ cúng nên quá trình phân chia di sản thừa kế, đề nghị HĐXX xem xét phân chia đảm bảo phân chia cho đương sự phần đất có tài sản của họ trên đất, trường hợp việc phân chia đất ảnh hưởng đến tài sản thuộc sở hữu của người khác thì cần buộc người được chia đất trích trả giá trị tài sản cho chủ sở hữu tài sản.

Về công sức quản lý, duy tu, tôn tạo, bảo quản di sản thừa kế: gia đình bị đơn bà Phan Thị S đã sống trên thửa đất tranh chấp trong thời gian dài, có công sức rất lớn trong việc duy tu, tôn tạo, bảo quản thửa đất. Do đó, cần trích công sức duy tu, tôn tạo, bảo quản thửa đất cho gia đình bị đơn tương đương 1 suất thừa kế.

Các đương sự phải nộp án phí, chi phí tố tụng, thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và ý kiến của các đương sự, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Thẩm quyền thụ lý, giải quyết và quan hệ tranh chấp.

Ông Lê Anh K khởi kiện yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ số M 367375 do UBND huyện T cấp ngày 06/01/1996 cho ông Lê Quốc V, tại thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15, được cấp đổi tại Giấy CNQSDĐ số BY 82478 do UBND huyện T cấp ngày 16/05/2016 cho ông Lê Quốc V và bà Phan Thị S tại thửa đất số 401, tờ bản đồ số 09 tại thôn E (xóm B), xã T, huyện T; yêu cầu phân chia di sản nêu trên là tài sản thừa kế của bố mẹ để lại theo pháp luật.

Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về di sản thừa kế và hủy quyết định cá biệt” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Ông Lê Anh K khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ Lê Văn Q1 và cụ Nguyễn Thị E. Cụ Lê Văn Q1 chết ngày 14/4/1985; cụ Nguyễn Thị E chết ngày 21/3/2005. Ngày 20/7/2022, ông Lê Anh K có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đều yêu cầu áp dụng thời hiện về thừa kế để giải quyết vụ án. Nguyên đơn thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu chia phần di sản của cụ Nguyễn Thị E.

Đối với phần di sản của cụ Q1, nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế, bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu, nhưng không có yêu cầu phản tố, đồng thời không nhất trí chia toàn bộ di sản, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.

Căn cứ quy định Điều 184, 188 Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự 2015, Án lệ số 26/2018/AL, khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 2015, ngày 06/4/2021, ông Lê Anh K khởi kiện yêu cầu chi di sản của cụ Nguyễn Thị E đang trong thời hiệu khởi kiện chia di sản theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về di sản, hàng thừa kế.

Di sản thừa kế:

Căn cứ văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T và xác nhận của các đương sự: thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15 nay là thửa đất số 401, tờ bản đồ số 09 tại thôn E (xóm B), xã T, huyện T có nguồn gốc là của cụ Lê Văn K2 và cụ Đậu Thị Á (bố mẹ cụ Lê Văn Q1) để lại cho cụ Lê Văn Q1 và cụ Nguyễn Thị E. Các bên đều thừa nhận các cụ chết không để lại di chúc.

Về việc sử dụng đất: cụ Lê Văn Q1 và cụ Nguyễn Thị E sinh sống trên thửa đất và sinh ra 10 người con. Năm 1985 cụ Q1 chết; khoảng năm 1992, ông Lê Quốc V cùng vợ con về sinh sống trên thửa đất để chăm sóc mẹ (cụ E) và em trai (anh Lê Văn M1); năm 1996 thì được cấp GCNQSD đất cho ông V và năm 2016 được cấp đổi GCNQSD đất mang tên ông V và bà S.

Bà Phan Thị S khai rằng, khi đi làm thủ tục cấp bìa thì ông V đi làm, bà cũng không biết. Thửa đất đó đã được cụ E giao cho vợ chồng bà nên mới làm được thủ tục cấp GCNQSD đất năm 1996. Khi cụ E ở một mình với ông Lê Văn M1 có kêu gọi các anh chị em về sống chung nhưng không ai về sống cùng. Quá trình từ năm 1996 đến 2022, không ai có ý kiến gì đối với việc quản lý, sử dụng đất của vợ chồng bà. Vì vậy không đồng ý chia di sản. Tuy nhiên, không cung cấp được giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc cụ Q1, cụ E định đoạt tài sản giao cho ông V, bà S hoặc văn bản của các đồng thừa kế về việc giao tài sản này cho ông V, bà S.

Như vậy, thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15 nay là thửa đất số 401, tờ bản đồ số 09 là của cụ Q1 và cụ E, các cụ chết không để lại di chúc; bị đơn cũng không xuất trình được tài liệu liên quan đến việc tặng cho và chuyển nhượng thửa đất cho bị đơn cũng như tài liệu thể hiện sự thống nhất của các đồng thừa kế về việc phân chia di sản, nhưng ông Lê Quốc V1 tự ý đăng làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSD đất mang tên ông V là không đúng quy định. Xác định di sản chưa được phân chia và giải quyết theo quy định pháp luật.

Căn cứ kết quả thẩm định về hiện trạng sử dụng đất và đối chiếu với bản đồ địa chính, xác định phần diện tích không bị chồng lấn và nằm trong phạm vi bản đồ địa chính hiện tại là 955,8 m² (bản đồ kèm theo). Trong đó, phần di sản của cụ E là ½ diện tích thửa đất, tương đương 477,9 m²

Đối với di sản là tài sản trên đất: Các đương sự đều khẳng định, khi cụ Q1 và cụ E chết có để lại 01 nhà gỗ 03 gian, 01 nhà ràn và giếng nước. Các đương sự chỉ tranh chấp đối với ngôi nhà 03 gian. Đối với nhà gỗ 03 gian, quá trình sử dụng bà S, ông V đã có sửa chữa, tu tạo để làm chỗ ở. Hiện nay, ông Lê Anh K và 06 anh chị em đã di chuyển sang một phần đất bên cạnh và xây dựng ổn định làm nhà thờ. Xác định đây là di sản để lại và giải quyết theo quy định pháp luật.

Hàng thừa kế của cụ Nguyễn Thị E: Các đương sự thống nhất, cụ Q1 và cụ E có 10 người con, hiện nay có 07 người còn sống. 03 người con là ông Lê Quốc V (chết năm 2018) ông Lê Văn T5 (chết năm 2021), bà Lê Thị N (chết năm 2022), đều chết sau các cụ (cụ Q1 và cụ E) nên được hưởng thừa kế của các cụ để lại. Ông V, bà N, ông T5 đã chết nên những người thuộc hàng thừa kế của các ông bà được hưởng phần di sản theo pháp luật.

[3.2] Về việc phân chia di sản thừa kế.

Đối với đất:

Thửa đất số 401, tờ bản đồ số 09 hiện nay được cấp 300 m² đất ở; 616,3 m² đất vườn, tương đương tỷ lệ đất ở/đất vườn là 1/3. Vì vậy, khi phân chia phần di sản nhận được thì phần đất ở và đất vườn các đương sự tương đương tỷ lệ này.

Thửa đất là tài sản của cụ Q1 và cụ E, nguyên đơn thống nhất chỉ yêu cầu chia phần thừa kế của cụ E. Phần tài sản của cụ E được xác định là ½ diện tích thửa đất tương đương 477,9 m². Theo hiện trạng thửa đất thì phần diện tích (các điểm 5,6,7,8,9,10,11 về 5), phần này hiện nay bà S cùng các con đã xây nhà ổn định nên cần xác định là phần di sản của cụ Q1 các đương sự không yêu cầu chia, đồng thời không thống nhất được việc phân chia tài sản này (nguyên đơn không yêu cầu chia; bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn), vì vậy, tạm giao cho bà S và các con quản lý.

Đối với phần còn lại (theo bản đồ là các điểm 11, 12, 13, 14, 15, 16,17, 18, 1,2,3, 4, 5 về 11) là 477,9 m², trên đất có 01 mái tôn, 02 ngôi nhà làm nhà thờ, 01 phần diện tích nhà cấp 4 của bà S, anh H1 và hàng rào do anh H1 xây dựng.

Xét thấy, phần diện tích 477,9 m² di sản của cụ E sẽ được chia cho 10 anh chị em; đối với bà Phan Thị S tài liệu hồ sơ vụ án thể hiện gia đình bị đơn bà Phan Thị S đã sống trên thửa đất tranh chấp trong thời gian dài, có công sức rất lớn trong việc duy tu, tôn tạo, bảo quản thửa đất. Do đó, cần trích công sức duy tu, tôn tạo, bảo quản thửa đất cho gia đình bị đơn tương đương 1 suất thừa kế. Như vậy, 477,9 m²/11 = 43,4 m². Tương đương mỗi phần được 43,4 m². (trong đó 14,4 m² đất ở; 29 m² đất vườn), giá trị: 14,4 m² đất ở * 800.000 đồng = 11.520.000 đồng; 29 m² đất vườn * 36.000 đồng = 1.044.000 đồng. Tổng cộng: 12.564.000 đồng.

Phần thừa kế của ông Á và các con (được hưởng từ bà Lê Thị N) và ông Đ, cũng như các con của ông V (anh H1, chị H, chị H2, anh H3), cũng như phần công sức đều thống nhất giao cho bà S, Như vậy, phần này bà S được nhận trong di sản của cụ E là 43,4 m² * 4 (gồm phần ông V, bà N, ông Đ và công sức của gia đình bà S) = 173,6 m²;

Phần của ông K và 06 anh chị em là 43,4 m² * 7 = 303,8 m². Toàn bộ phần diện tích này, các đương sự (gồm ông K, ông K1, bà T2, bà X, bà T3, bà C) thống nhất giao cho ông K nhận, quản lý sử dụng để làm nhà thờ nên giao cho ông Lê Anh K.

Tuy nhiên xét thấy: Bà S và gia đình đã có quá trình sử dụng lâu dài, khi xây dựng nhà cấp 4 (mái bằng), các anh chị em đều biết và không có ý kiến gì; trên phần đất phía sau có 01 nhà thờ do các anh chị em cùng tham gia xây dựng. Nếu quyết định phân chia đất theo diện tích các bên được phân chia (như trên) thì phải phá dỡ nhà thờ (do ông V cùng các anh chị em tạo lập năm 1998); phá dỡ một phần diện tích nhà cấp 4 (mái bằng) do bà S đã xây dựng, ảnh hưởng hư hỏng đến cấu trúc nhà. Đồng thời, các đương sự bên nguyên đơn cũng đồng ý giữ nguyên nhà thờ do ông V cùng các anh chị em xây trước đây và nhận phần đất không ảnh hưởng đến cấu trúc nhà của anh H1, bà S; bên phía bị đơn là người liên quan cũng mong muốn giữ nguyên nhà thờ này.

Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho các đương sự, phù hợp với nguyện vọng các bên, cần phân chia diện tích đất cho các bên phù hợp với hiện trạng các công trình trên đất, đảm bảo đúng quy định pháp luật, phạm trù đạo đức và ý kiến các đương sự. Bên nhận phần đất lớn hơn ngoài phần mình được hưởng sẽ phải trích trả cho bên kia giá trị tương đương căn cứ kết quả định giá.

Căn cứ thực tế đo đạc, xét thấy, cần đảm bảo việc ổn định công trình do gia bà S xây dựng, nhà thờ (làm năm 1998) và lối đi vào nhà thờ này, quyết định giao cho ông K và 06 anh chị em phần diện tích 200 m² (theo các điểm: 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 về 11). Trong đó 1/3 là diện tích đất ở, còn lại là đất vườn, tương đương 67 m² đất ở và 133 m² đất vườn.

Bà S có nghĩa vụ thanh toán cho ông K số tiền chênh lệch của 103,8 m² (303, 8 m² – 200 m²), trong đó 34 m² đất ở và 69,8 m² đất vườn. Tương đương 34 m2 * 800.000 đồng = 27.200.000 đồng; 69,8 * 36.000 đồng = 2.512.800 đồng. Tổng cộng: 29.712.800 đồng.

Đối với phần đất di sản của cụ Q1, nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế, bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu, nhưng không có yêu cầu phản tố, đồng thời không nhất trí chia toàn bộ di sản, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, do đó tạm giao cho bà Phan Thị S quản lý, sử dụng phần diện tích 477,9 m² là phần di sản của cụ Lê Văn Q1 được xác định tại các điểm (5, 6,7,8,9,10,11 về 5) theo bản đồ kèm theo.

Đối với phần di sản của cụ E được phân chia, giao cho bà Phan Thị S quản lý, sử dụng phần diện tích đất 277,9 m² được giới hạn bởi các điểm (11, 12, 19, 18, 1,2,3,4,5 về 11) theo bản đồ kèm theo.

Đối với tài sản trên đất:

Đối với nhà thờ xây năm 1998, các anh chị em (trừ ông K) tham gia xây dựng năm 1998, các đương sự có yêu cầu xem xét trong quá trình giải quyết vụ án. Đây là tài sản chung của ông V và các anh chị em (trừ ông K), không phải là di sản. Các đương sự trình bày đề nghị tòa án xem xét, nhưng không đương sự nào có yêu cầu độc lập về giải quyết nhà thờ này, không xuất trình được tài liệu về việc xây dựng nhà thờ. Tại phiên tòa, các đương sự bên phía nguyên đơn đề nghị giữ nguyên nhà thờ, giao cho bên phía bị đơn và đồng ý trích chia phần đất có nhà thờ cho bên phía bị đơn. Vì vậy, cần xem xét quyết định để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Đối với gian nhà có nguồn gốc của cụ Q1, cụ E để lại, được gia đình bà S tôn tạo sửa chữa, nay đã được ông K và các anh chị em di chuyển và làm chắc chắn, ổn định trên một phần diện tích đất. Đồng thời, các đương sự không xuất trình được tài liệu về đóng góp xây dựng và đều xác định là có công sức đóng góp của các anh chị em. Mặt khác 02 gian nhà này đều sử dụng vào mục đích thờ cúng của gia đình và như phân tích phân chia đất nêu trên, 02 nhà này nằm trên 02 phần đất được giao cho 02 bên. Vì vậy cần giữ nguyên 02 gian nhà này và giao cho mỗi bên 01 nhà; các bên không phải thanh toán cho nhau về chênh lệch giá trị.

Đối với mái tôn phía trước do ông K và 06 anh chị em làm, nằm trên phần diện tích đất giao cho ông K nên giao phần mái tôn này cho ông K.

Đối với hàng rào do gia đình bà S xây dựng, có một phần nằm trên đất giao cho ông K (22,82 m), vì vậy, cần buộc ông K có nghĩa vụ thanh toán cho bà S giá trị phần hàng rào này theo kết quả định giá. Giá 126.000 đồng * 22,82 m = 2.875.000 đồng.

Đối với cây giới có nguồn gốc từ trước, nằm trên phần đất giao cho ông K nên giao cho ông K cây giới này.

Đối với phần tường gạch do ông K và 6 anh chị em xây dựng trên đất. Thời điểm xây các bên chưa thống nhất việc phân chia di sản; thửa đất đang mang tên ông V, bà S. Nay phân chia nằm trên phần đất được giao cho bà S, vì vậy cần buộc ông K tháo dỡ. Bà S không có nghĩa vụ thanh toán chi phí tháo dỡ cho ông K.

Đối với tài sản khác trên phần đất giao và tạm giao cho bà S, do bà S và anh H1 tạo dựng, các đương sự không có tranh chấp, thuộc quyền sở hữu của bà S và các đồng sử hữu theo quy định.

[3.2] Đối với yêu cầu hủy GCNQSD đất

Như đã phân tích trên, thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15, nay là thửa 401, tờ bản đồ số 39, diện tích 916,3 m² xã T, huyện T là di sản thừa kế cụ Q1, cụ E để lại cho các đồng thừa kế chưa chia. Vì vậy, năm 1996, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Quốc V năm 1996 và cấp đổi năm 2016 trong khi không có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của các đồng thừa kế hàng thứ nhất của cụ Q1, cụ E là không đúng quy định pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế còn lại. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 367375 do UBND huyện T cấp ngày 06/01/1996 cho ông Lê Quốc V, tại thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15, được cấp đổi tại Giấy CNQSDĐ số BY 82478 do UBND huyện T cấp ngày 16/05/2016 cho ông Lê Quốc V và bà Phan Thị S tại thửa đất số thửa đất số 401, tờ bản đồ số 39 tại xã T, huyện T là có căn cứ, được chấp nhận.

[4]. Án phí và chi phí tố tụng.

[4.1]. Án phí:

Các đương sự được phân chia thừa kế phải chịu phần án phí đối với giá trị tài sản mình nhận được. Tuy nhiên trong vụ án này, đối với bà S là người cao tuổi, phần di sản bà nhận được từ ông Á, ông Đ (đều là người cao tuổi), phần của các con bà S phần nhiều là công sức, vì vậy, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà S và các thừa kế cùng phía đã giao di sản cho bà S.

Đối với ông Lê Anh K, bà Lê Thị C, bà Lê Thị T2, ông Lê Văn K1, bà Trần Thị T3, đều là người cao tuổi, phần di sản nhận để mục đích cùng tạo lập chỗ thờ cúng vì vậy cần miễn án phí cho các đương sự này.

Anh Lê Văn M1 và bà Lê Thị X phải chịu phần án phí đối với giá trị tài sản mình được nhận.

[4.2]. Chi phí tố tụng.

Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 4.115.000 đồng. Các đương sự không thống nhất được nêu chia đôi cho ông K, bà S mỗi bên chịu một nửa. Do ông K đã bỏ ra chi phí này nên bà S có nghĩa vụ thanh toán cho ông K số tiền 2.057.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 184, 188, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 25, khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; các Điều 612, 613, 614, 623, 649, 651 Bộ luật dân sự; Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh K về việc yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ số M 367375 do UBND huyện T cấp ngày 06/01/1996 cho ông Lê Quốc V, tại thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15, được cấp đổi tại Giấy CNQSDĐ số BY 82478 do UBND huyện T cấp ngày 16/05/2016 cho ông Lê Quốc V và bà Phan Thị S tại thửa đất số 401, tờ bản đồ số 09 tại thôn E (xóm B), xã T, huyện T.

[2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh K về việc phân chia di sản của cụ Nguyễn Thị E để lại.

Giao cho ông Lê Anh K được quyền quản lý, sử dụng thửa đất diện tích 200 m² được tách từ thửa đất số 401, tờ bản đồ số 09 tại thôn E (xóm B), xã T, huyện T theo các giới hạn điểm (12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 về 12) tại bản đồ kèm theo. Trong đó 67 m² đất ở và 133 m² đất vườn. Trị giá: 58.388.000 đồng.

Giao cho ông Lê Anh K được quyền sở hữu các tài sản trên phần đất được phân chia, gồm: 01 nhà cột gỗ kê, mái ngói, nền lát gạch, tường xây gạch dày 150, diện tích 47 m², giá 3.130.000 đồng/m²; 01 mái tôn diện tích 66,6 m², giá 375.000 đồng/m²; 01 cây giới, giá 80.000 đồng; hàng rào có 02 trụ cổng gắn liền, giá 126.000 đồng * 22,82 m = 2.875.000 đồng.

Ông Lê Anh K được nhận số tiền chênh lệch giá trị của 103,8 m² (303, 8 m² – 200 m²) do bà Phan Thị S giao, trong đó 34 m² đất ở và 69,8 m² đất vườn. Tương đương 34 m² * 800.000 đồng = 27.200.000 đồng; 69,8 * 36.000 đồng = 2.512.800 đồng. Tổng cộng: 29.712.800 đồng.

Buộc ông Lê Anh K có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phan Thị S số tiền 2.875.000 đồng, tiền giá trị hàng rào do gia đình bà S đã xây dựng.

Buộc ông Lê Anh K có nghĩa vụ phá dỡ đoạn tường rào xây gạch đỏ nằm trên phần đất được giao cho bà Phan Thị S. Bà Phan Thị S không có nghĩa vụ thanh toán chi phí phá dỡ bức tường này cho ông K.

Tạm giao cho bà Phan Thị S quản lý, sử dụng phần diện tích 477,9 m² là phần di sản của cụ Lê Văn Q1 được xác định tại các điểm (5, 6,7,8,9,10,11 về 5) theo bản đồ kèm theo.

Giao cho bà Phan Thị S quản lý, sử dụng phần diện tích đất 277,9 m² được giới hạn bởi các điểm (11, 12, 19, 18, 1,2,3,4,5 về 11) theo bản đồ kèm theo.

Giao cho bà Phan Thị S được quyền sở hữu các tài sản trên phần đất được phân chia và tạm giao, gồm: 01 nhà cột gỗ kê, mái ngói, nền lát gạch đỏ xây dựng năm 1998, diện tích 38,5 m², giá 1.565.000 đồng/m2 và các tài sản có trên phần đất phân chia và tạm giao cho bà S (trừ hàng rào gạch đỏ do ông Kiều P1 dỡ).

Buộc bà Phan Thị S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Anh K số tiền chênh lệch của 103,8 m² (303, 8 m² – 200 m²), trong đó 34 m² đất ở và 69,8 m² đất vườn. Tương đương 34 m² * 800.000 đồng = 27.200.000 đồng; 69,8 * 36.000 đồng = 2.512.800 đồng. Tổng cộng: 29.712.800 đồng.

Bà Phan Thị S được nhận số tiền 2.875.000 đồng từ ông Lê Anh K thanh toán giá trị đoạn hàng rào gia đình bà đã xây dựng.

Ông Lê Anh K và bà Phan Thị S có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai.

[3]. Về chi phí tố tụng:

Ông Lê Anh K và bà Phan Thị S có nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng thẩm định, định giá là 4.115.000 đồng, mỗi người chịu một nửa. Do ông K đã bỏ ra chi phí này nên bà S có nghĩa vụ thanh toán cho ông K số tiền 2.057.000 đồng.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Anh K, ông Lê Văn K1, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị C, bà Trần Thị T3, anh Lê Văn C1, anh Lê Văn D, anh Lê Văn Q, bà Phan Thị S, anh Lê Văn H1, chị Lê Thị H, anh Lê Văn H3, chị Lê Thị H2, ông Lê Văn Đ, ông Văn Đình Ấ, chị Văn Thị T, anh Văn Đình T1, anh Văn Đình B, chị Văn Thị H4, chị Văn Thị M.

Ông Lê Văn M1 và bà Lê Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần giá trị tài sản của mình nhận được là 12.564.000 đồng. Án phí phải chịu là 628.200 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.”

[5]. Quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

- VKSND Cấp cao tại Hà Nội;

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- Cục THA dân sự tỉnh Nghệ An;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS - ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp thừa kế và hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 18/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế và hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kieu Son tranh chấp thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger