|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông, Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Giao:
Bà Vũ Phương Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/ QĐXXST - HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thanh G, sinh năm 1993; tại xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm D xã B huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị U, vợ Đặng Thị N, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Nguyễn Quý D, sinh năm 1996; tại xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm D xã B huyện G, tỉnh Nam Định; là đảng viên đảng công sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L và bà Bùi Thị L1, vợ Vũ Thị N1, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến
ngày 28/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1997; tại xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm D xã B huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Phùng Thị Y, bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Đặng Văn D2, sinh năm 1996; tại xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm D xã B huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N2 và bà Lại Thị H, vợ Vũ Thị T, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Đặng Văn T1, sinh năm 1993; tại xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm D xã B huyện G, tỉnh Nam Định; là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc P và bà Phạm Thị C, bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1988; tại xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm D xã B huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 và bà Trần Thị N3, vợ Đặng Thị N4, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân ngày 28-11- 2007 Toà án nhân dân thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H1; ông Nguyễn Văn Đ; anh Nguyễn Văn L3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 23/12/2023, sau khi ăn cơm tại nhà ông Nguyễn Đức H2 ở xóm D xã B huyện G tỉnh Nam Định, các đối tượng Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Trần Tuấn D3, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 rủ nhau đánh bạc ăn tiền. Nguyễn Quý D đã đi mua 02 bộ tú lơ khơ và nước ngọt. Khi mua bài về, D hỏi G chơi ở đâu thì G bảo về nhà Giao tức là nhà ông Nguyễn Văn Đ (là bố đẻ của G) và Giao dẫn các đối tượng D, Đ1, D2, D3 và T1 lên gian phòng thờ trên tầng 2 nhà ông Đ có thảm nỉ đã trải sẵn để đánh bạc ăn tiền. Do không mang theo tiền mặt nên D3 và D2 đã chuyển vào tài khoản của D mỗi người 1.000.000đồng để D đưa tiền mặt cho D3 và D2. Sau đó G, D, Điều, D3, D2 và T1 bắt đầu đánh bạc dưới hình thức đánh liêng ăn tiền và thống nhất mức độ vào gà 10.000đồng, tố cao nhất 200.000đồng, ai được ăn liêng đồng hoa thì thu mỗi nhà 40.000đồng và ra chiếu 40.000đồng, ai được ăn sáp thì thu của mỗi nhà 80.000đồng và ra chiếu 60.000đồng cho G để phục vụ nước thuốc và quét dọn. Sau khi G, D, Điều, D3, D2 và T1 chơi bạc được khoảng 10 phút thì Nguyễn Văn T2 gọi điện cho D đang ở đâu thì D trả lời đang đánh liêng bên nhà G. Sau đó T2 đi đến nhà G và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Đến khoảng 23 giờ 40 phút, T2 có việc nên về trước, G xuống mở cổng còn D, Điều, D3, D2 và T1 vẫn tiếp tục ngồi đánh bạc ăn tiền. Ngay lúc này tổ tuần Công an huyện G phát hiện, bắt quả tang, riêng đối tượng Nguyễn Văn T2 đã bỏ chạy. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.300.000đ và 260.000đồng là tiền ra chiếu 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 thảm nỉ. Thu giữ trên người Giao: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pronax. Thu giữ trên người Dư 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus. Thu giữ trên người Nguyễn Văn Đ1 số tiền 8.500.000đồng và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 11 Promax. Thu giữ trên người Nguyễn Trần Anh D4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A11. Thu giữ của Đặng Văn D2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus. Thu giữ trên người Đặng Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax.
Ngày 25/12/2023 Nguyễn Văn T2 đến cơ quan CSĐT Công an huyện G đầu thú về hành vi đánh bạc ăn tiền trên và tự giác giao nộp số tiền 300.000 đồng là số tiền để sử dụng đánh bạc. Không thu giữ được điện thoại di động có số thuê bao 0865611881 của Trưởng do trong quá trình bỏ chạy bị mất.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 và Nguyễn Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận thêm. Nguyễn Thanh G khai nhận: Khi tham gia đánh bạc có 1.600.000đồng sử dụng để đánh bạc khi bắt giữ Giao đang thua còn 1.360.000đồng trên chiếu bạc bị thu giữ.
Nguyễn Quý D khai nhận: Khi tham gia đánh bạc có 2.755.000đồng, sử dụng 755.000đồng để đánh bạc, còn 2.000.000đồng D đưa cho D4 và D2 sử dụng đánh bạc (D4 và D2 chuyển tiền vào tài khoản của D). Khi bị bắt D đang thắng, có 1.250.000đồng trên chiếu bạc bị thu giữ.
Nguyễn Văn Đ1 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, Điều mang theo số tiền 10.000.000đ trong đó có 1.500.000đ sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt Điều đang thắng, có 2.640.000đ trên chiếu bạc bị thu giữ; còn số tiền 8.500.000đ để trong ví không sử dụng đánh bạc.
Nguyễn Trần Tuấn D3 khai nhận: Khi chơi bạc thì D3 không mang theo tiền mặt, D3 đã sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển cho D số tiền 1.000.000₫ sau đó D đưa cho D3 1.000.000đ tiền mặt để sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt giữ; D3 đang thua còn 860.000 đồng trên chiếu bạc bị thu giữ.
Đặng Văn D2 khai nhận: Khi chơi bạc thì D2 không mang theo tiền mặt, D2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển cho D số tiền 1.000.000₫ sau đó D đưa cho D2 1.000.000đ tiền mặt để sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt giữ; D2 đang thua còn 640.000 đồng trên chiếu bạc bị thu giữ.
Đặng Văn T1 khai nhận: Khi chơi bạc thì T1 mang theo số tiền 500.000đ sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt giữ; Triệu đang thua còn 410.000đ trên chiếu bạc bị thu giữ.
Nguyễn Văn T2 khai nhận: Khi chơi bạc thì T2 mang theo số tiền 600.000đ, sử dụng để đánh bạc. Sau khi lên đầu thú thì T2 tự giác giao nộp lại số tiền 300.000đ là số tiền sử dụng đánh bạc còn lại.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS- GT ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1,Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 và Nguyễn Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D; mỗi bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1; mỗi bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Giao các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1, Nguyễn Văn T2
cho UBND xã B huyện G tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 7.860.000 đồng tiền đánh bạc thu giữ trên chiếc bạc và trên người các bị cáo và 04 điện thoại di động các đối tượng sử dụng làm phương tiện liên lạc và chuyển tiền để đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 thảm nỉ. Căn cứ Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dựng án phí lệ phí toà án để tuyên án phí đối với các bị cáo.
Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình, ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ ngày 23/12/2023 tại nhà ông Nguyễn Văn Đ, ở xóm D xã B huyện G tỉnh Nam Định, Công an huyện G phát hiện, bắt quả tang các đối tượng Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Trần Tuấn D3, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng ăn tiền, thu giữ trên chiếu bạc 7.300.000 đồng và 260.000 đồng tiền ra chiếu. Riêng Nguyễn Văn T2 bỏ trốn, đến ngày 25-12-2023 ra đầu thú và giao nộp số tiền 300.000 đồng tham gia đánh bạc. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. VKSND huyện Giao Thuỷ đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cư pháp luật.
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh và trật tự xã hội, hạnh phúc gia đình đã tan vỡ vì cờ bạc, vì vậy cần phải xử phạt nghiêm minh.
[4] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Thanh G đã chuẩn bị địa điểm, bị cáo D chuẩn bị công cụ đánh bạc nên Giao và Dư giữ vai trò cao hơn các bị cáo còn lại trong vụ án.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 là những người có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2, ngày 28-11-2007 bị Toà án nhân dân thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nay đã được xoá án tích nên là người có nhân thân xấu.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều là trụ cột trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo G, D, D2, T2 nuôi con còn nhỏ, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vị trí vai trò của mỗi bị cáo trong vụ án, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù tương xứng. Tuy nhiên, các bị cáo đều đủ điều kiện để hưởng án treo như quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15- 5- 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15- 4- 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập thấp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Tịch thu số tiền 7.860.000đ và 4 chiếc điện thoại di động đã thu giữ là tiền và công cụ sử dụng đánh bạc sung ngân sách nhà nước; tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 thảm nỉ.
Đối với số tiền 8.500.000đ thu giữ của Nguyễn Văn Đ1, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn Đ1 và Đặng Văn T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp.
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Trần Tuấn D3, giai đoạn truy tố D3 bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, hiện đang điều trị tại Bệnh viện V - Hà Nội, Viện kiểm sát đã tách ra và tạm đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Trần Tuấn D3 để xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Các đối tượng đánh bạc tại nhà ông Nguyễn Văn Đ, quá trình điều tra xác định, ông Đ không có nhà, không biết nên không xử lý đối với ông Đ.
[10] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, mỗi bị cáo 10 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1, mỗi bị cáo 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1, Nguyễn Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách (các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 bị tạm giữ từ ngày 24-12-2023 đến ngày 28-12-2023; bị cáo Nguyễn Văn
Trưởng bị tạm giữ từ ngày 26-12-2023 đến ngày 28-12-2023).
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu số tiền 7.860.000 đồng dùng để đánh bạc (đã thu giữ theo biên lai thu tiền số 0003159 ngày 09-4-2024 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Giao Thuỷ); 04 điện thoại di động là phương tiện liên lạc và chuyển tiền đánh bạc sung ngân sách Nhà nước. Tịch thu 02 Bộ bài dùng để đánh bạc, 01 thảm nỉ cho tiêu hủy (được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng số 49 ngày 09-4-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thuỷ).
- Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 và Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thanh G, Nguyễn Quý D, Nguyễn Văn Đ1, Đặng Văn D2, Đặng Văn T1 và Nguyễn Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Thanh Giao 10 tháng tù cho hưởng án treo
