Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST

Ngày 21 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà và bà Nguyễn Thị Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2023/HSST, ngày 03 tháng 11 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo.

Họ và tên: Nguyễn Văn Th (Tên gọi khác: Không có) - Sinh năm 1952; Nơi sinh: Tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số nhà 21, tổ dân phố 05, phường N B, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, đã chết và bà Đàm Thị N, đã chết; Vợ: Trần Thị Ng, có 04 con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 27/9/2023 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ, 30 phút ngày 21/9/2023, Th một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vespa, Biển kiểm soát 27B1 -181.99 từ nhà tại tổ dân phố 5, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ đến trung tâm Methadone để đăng ký uống Methadone. Khi đến khu vực tổ 6, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ thì gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy được bọc bên ngoài bằng vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng, tiếp đến là gói giấy bạc màu vàng với giá 70.000đồng. Th cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi về. Đến hồi 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang chuẩn bị điều khiển xe quay về nhà thì bị Tổ công tác cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm: 0,25 gam Heroine, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 chiếc xe máy ô tô BKS 27B1 – 181.99.

Tại bản kết luận giám định số: 1423/KL-KTHS ngày 26/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng: 0,25 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,13 gam Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 170/CT-VKSTPĐBP ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm o, t, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao: Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Giao bị cáo Nguyễn Văn Th cho Ủy ban nhân dân phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS, Hủy bỏ biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.

Chấp nhận biên bản trao trả tài sản cho chủ sở hữu ngày 16/10/2023

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo là người cáo tuổi. Do vậy các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin HĐXX cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, bản tự khai, các bản cung, biên bản ghi lời khai, có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 21/9/2023 tại khu vực tổ dân phố 6, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ Nguyễn Văn Th đã có hành vi tàng trữ 0,25gam Heroine, mục đích để bản thân bị cáo sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:

...c) Methamphetamine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm o điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt (ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú); lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo là người cao tuổi. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bản thân bị cáo là người cao tuổi không có khả ngăng lao động. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo. Để thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật

[4]. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nên hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo là người cao tuổi, không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.

[6]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh giấy bạc màu vàng quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 27B1 – 181.99 là của chị Lê Thị Trang Nhung cho bị cáo mượn, chị Nhung không biết Th sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi tạm giữ cơ quan Điều tra đã trả lại xe cho chị Nhung nhận ngày 16/10/2023. Xét thấy Cơ quan điều tra đã xử lý đúng theo quy định pháp luật. Vì vậy tại phiên tòa hôm nay HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.

[7]. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác minh làm rõ được, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[9]. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo là người cáo tuổi. Do vậy các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, o, t khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; 333 điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo là người cáo tuổi.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/11/2023). Giao bị cáo Nguyễn Văn Th cho Ủy ban nhân dân phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
  2. Hủy bỏ biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,13gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.

    (Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023);

    - Chấp nhận biên bản trao trả tài sản ngày 16/10/2023

  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/11/2023).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSNDTPĐBP;
  • - VKSND tỉnh ĐB;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP;
  • - Cơ quan THAHS TP ĐBP;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Chi cục THADS TP ĐBP;
  • - HS THAHS;
  • - Ủy ban nhân dân phường Noong Bua, Tp. Điện Biên Phủ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 18/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phtsj 01 năm án treo 02 năm thử thách
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger