|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/DS-ST Ngày: 20- 6 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Thanh
- Bà Huỳnh Thị Thuỳ Trâm
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Trần Phương Duy- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QÐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà NộiNgười đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng N
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Duy K, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh S1, Quảng Ngãi, theo giấy ủy quyền số: 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N;
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn C – Phó Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh S1, Quảng Ngãi, theo Quyết định ủy quyền số 82/QĐ-NHNo.SHu ngày 25/3/2024;
Bị đơn:
- - Ông Nguyễn Bá C1, sinh năm 1951
- - Bà Võ Thị D, sinh năm 1954
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1978
- - Bà Trần Thị V1, sinh năm 1978
- - Chị Nguyễn Thùy Thảo V2, sinh năm 2005
- - Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 2006
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn ông Nguyễn Bá C1 có mặt; bị đơn bà Võ Thị D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18/7/2023, tại bản tự khai và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N là ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ngân hàng N với ông Nguyễn Bá C1, bà Võ Thị D có ký hai hợp đồng tín dụng vào ngày 18/5/2022 cụ thể như sau:
Hợp đồng tín dụng số 4513-LAV-202200463 cho vay số tiền 460.000.000 đồng, mục đích vay sửa chữa nhà ở, thời hạn vay là 120 tháng, mức lãi suất 10%/năm, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông C1, bà D đã trả được 90.000.000 đồng tiền gốc và 37.791.783 đồng tiền lãi, hiện nay ông C1, bà D còn nợ số tiền gốc 370.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 62.343.836 đồng, tiền lãi quá hạn là 369.507 đồng, tiền lãi chậm trả: 2.859.662 đồng, tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là: 435.573.005 đồng.
Hợp đồng tín dụng số 4513-LAV-202200464 cho vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay mua ngư lưới cụ, thời hạn vay là 60 tháng, mức lãi suất 10%/năm, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông C1, bà D đã trả được 60.000.000đồng tiền gốc và 15.880.548 đồng tiền lãi, hiện nay ông C1, bà D còn nợ số tiền gốc 140.000.000đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 27.758.903 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.676.713 đồng, tiền nợ lãi chậm trả 1.271.627 đồng; tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là: 170.707.243 đồng.
Tính đến ngày 20/6/2024 ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D còn nợ Ngân hàng N tổng cộng gốc và lãi của hai khoản vay là: 606.280.248 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 510.000.000đồng, tiền nợ lãi 96.280.248 đồng; ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D phải trả khoản nợ này và khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D không trả được nợ, ngân hàng yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 247, tờ bản đồ số 38 phường P, diện tích đo đạc thực tế 390,6 m² theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 112-TVB/2022/HĐTC ngày 12/5/2022 để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho ngân hàng thì ông C1, bà D phải tiếp tục trả cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Bá C1, bà Võ Thị D và tại phiên tòa ông Nguyễn Bá C1 trình bày:
Vợ chồng ông C1, bà D có ký kết với Ngân hàng N hai hợp đồng tín dụng để vay 660.000.000 đồng, do làm ăn thất bại nên không trả tiền gốc, lãi kịp thời cho ngân hàng, hiện tại vợ chồng ông còn nợ ngân hàng tổng cộng gốc và lãi là: 606.280.248 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 510.000.000đồng, tiền nợ lãi 96.280.248 đồng, gia đình ông đang gặp khó khăn nên đề nghị ngân hàng cho trả dần. Trường hợp vợ chồng ông không trả được nợ thì vợ chồng ông đồng ý xử lý tài sản đã thế chấp là nhà và đất tại thửa đất 247, tờ bản đồ số 38 phường P để trả nợ ngân hàng, nếu xử lý tài sản không đủ trả nợ cho ngân hàng thì vợ chồng ông C1 đồng ý tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị V1 trình bày:
Bà là con dâu của ông C1, bà D. Trước đây vợ chồng bà chung sống với vợ chồng ông C1 nhưng cách đây hơn 10 năm vợ chồng bà đã ra ở riêng. Nhà và đất tại thửa đất 247 tờ bản đồ số 38 phường P là tài sản của ông C1, bà D. Vợ chồng bà không liên quan và không tranh chấp đối với thửa đất này. Vợ chồng ông C1, bà D được quyền định đoạt thửa đất này.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thùy Thảo V2 trình bày:
Chị là cháu của ông C1, bà D. Hiện tại chị và anh Nguyễn Anh T đang sống với ông Nguyễn Ngọc S, bà Trần Thị V1. Nhà và đất tại thửa đất 247 tờ bản đồ số 38 phường P là tài sản của ông C1, bà D. Chị không liên quan và không tranh chấp đòi quyền lợi gì tại thửa đất này. Mọi việc tại thửa đất này do ông bà nội quyết định.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S và anh Nguyễn Anh T đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 317, 318, 319, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D phải trả cho Ngân hàng N 606.280.248 đồng và khoản tiền lãi phát sinh sau ngày 20/6/2024, trường hợp ông C1, bà D không trả được nợ, ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 38 phường P, thị xã Đ, diện tích 390,6 m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng N có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D ở tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng: Bị đơn bà Võ Thị D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị V1, chị Nguyễn Thùy Thảo V2 vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S, anh Nguyễn Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này.
[3] Về nội dung:
Theo hai hợp đồng mà Ngân hàng N với ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D đã ký kết vào ngày 18/5/2022, hợp đồng tín dụng số 4513-LAV-202200463, số tiền vay 460.000.000 đồng, hợp đồng số 4513-LAV-202200464, số tiền vay 200.000.000 đồng, tổng cộng Ngân hàng N đã cho ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D vay 660.000.000 đồng, mục đích vay sửa chữa nhà ở và mua ngư lưới cụ. Các hợp đồng vay trung hạn và dài hạn. Quá trình thực hiện các hợp đồng này, ông C1, bà D tính đến nay chỉ trả khoản vay thứ nhất 90.000.000 đồng tiền gốc, 37.791.783 đồng tiền lãi; khoản vay thứ hai đã trả 60.000.000 đồng tiền gốc, 15.880.548 đồng tiền lãi.
Hội đồng xét xử xử xét thấy, hợp đồng tín dụng giữa các bên đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật nhưng ông C1, bà D đã không thực đúng theo thỏa thuận mà hai bên đã cam kết, không trả gốc và lãi trong nhiều kỳ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông C1, bà D vẫn không thực hiện. Hiện tại ông C1, bà D còn nợ ngân hàng 606.280.248 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 510.000.000đồng, tiền nợ lãi 96.280.248 đồng. Bị đơn ông C1 thống nhất còn nợ Ngân hàng N số tiền trên nhưng đề nghị cho vợ chồng ông được trả dần, tuy nhiên đề nghị của ông C1, bà D không được ngân hàng chấp nhận.
Về phía người liên quan bà Trần Thị V1, chị Nguyễn Thùy Thảo V2 không tranh chấp đối với tài sản thế chấp và thống nhất với ý kiến của bị đơn.
Về phía người liên quan ông Nguyễn Ngọc S, anh Nguyễn Anh T không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của ngân hàng.
Do bên vay vi phạm cam kết mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C1, bà D phải trả 606.280.248 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/6/2024 là có căn cứ theo quy định tại Điều 466, 470 Bộ luật dân sự, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Hội đồng xét xử xét thấy, theo hợp đồng thế chấp số 112-TVB/2022/HĐTC ngày 12/5/2022, thể hiện giữa nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D có ký hợp đồng thế chấp, theo hợp đồng ông C1, bà D đã thế chấp cho ngân hàng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 38 phường P, thị xã Đ để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, hợp đồng thế chấp đã được đăng ký tại Văn phòng Đ, chi nhánh Đ1 vào ngày 17/5/2022, do vậy hợp đồng thế chấp là hoàn toàn hợp pháp. Diện tích thửa đất đo đạc thực tế 390,6 m², giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngân hàng chỉ yêu cầu xử lý đối với phần diện tích theo hiện trạng thực tế đang sử dụng tại thửa đất số 247, tờ bản đồ số 38 phường P. Tài sản trên đất là nhà của ông C1, bà D. Do vậy việc ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất 247, tờ bản đồ số 38 phường P, thị xã Đ, theo sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án, trong trường hợp ông C1, bà D không trả được nợ là phù hợp theo quy định tại Điều 318, 320, 323 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 7.500.000 đồng, ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này, nguyên đơn Ngân hàng N đã nộp tạm ứng nên ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D phải hoàn trả cho ngân hàng số tiền này.
[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D phải trả cho Ngân hàng N 606.280.248 đồng (sáu trăm lẻ sáu triệu hai trăm tám mươi nghìn hai trăm bốn mươi tám đồng), trong đó tiền nợ gốc là 510.000.000đồng, tiền nợ lãi 96.280.248 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 7.500.000 đồng, ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D phải chịu chi phí này, nguyên đơn Ngân hàng N đã nộp tạm ứng nên ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D phải hoàn trả cho ngân hàng 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D được miễn nộp tiền án phí.
Kể từ ngày 21/6/2024 ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D không thanh toán được nợ, ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 247, tờ bản đồ số 38 phường P, thị xã Đ, diện tích 390,6 m² (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Nguyễn Bá C1 và bà Võ Thị D phải tiếp tục trả cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Hoàn trả cho Ngân hàng N 15.414.566 đồng (mười lăm triệu bốn trăm mười bốn nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000389 ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn Ngân hàng N, bị đơn ông Nguyễn Bá C1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Võ Thị D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của ngân hàng N, buộc vợ chồng ông C phải trả nợ cho ngân hàng
