|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HS-ST
Ngày: 19-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dễ.
- Bà Nguyễn Thị Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Ngọc S, sinh ngày 15 tháng 11 năn 1966, tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi thường trú: 3, P, phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Hồ Thị S1; Vợ: Triệu Nghi Q; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2007
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 15/4/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Phạm Văn C (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị B, sinh năm: 1953; Địa chỉ: Số A, ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh Q1, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Địa chỉ: Số B, Lô D, Cư xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Trần Vinh P, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Số B, H, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.
- Ông Trịnh Mạnh T, sinh năm: 1980; Địa chỉ: B, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 23/02/2024, Nguyễn Minh Q1, nơi ở: Cư xá T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh điện thoại cho Lê Ngọc S (là người có giấy phép lái xe) đi theo Q1 về thửa đất của Q1 mua ở ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An chơi, mục đích là Q1 có tổ chức uống rượu, khi về thì Lê Ngọc S là người điều khiển xe ô tô chở Q1 về thành phố Hồ Chí Minh. Q1 điều khiển xe ô tô bán tải biển số 51D-193.99 chở Lê Ngọc S đến quận T đón anh Trần Vinh P, cư trú: Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó Q1 điều khiển ô tô đến Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đón anh Trịnh Mạnh T, cùng đi xuống thửa đất của Q1 ở huyện T, tỉnh Long An. Tại đây Q1 tổ chức tiệc rượu đến hơn 22 giờ ngày 23/02/2024 thì kết thúc. Lê Ngọc S điều khiển xe ô tô bán tải biển số 51D-193.99, chở Nguyễn Minh Q1 ngồi ghế phụ ngang với S, Trần Vinh P ngồi ghế sau phía sau S, Trịnh Mạnh T ngồi ghế sau phía sau Nguyễn Minh Q1, do đã có uống rượu bia nên Nguyễn Minh Q1, Trần Vinh P và Trịnh Mạnh T ngồi trên xe ngủ, Lê Ngọc S cho xe đi trên đường T để về huyện B (ngã 4 B) với tốc độ khoảng 50-60 km/h, khi Lê Ngọc S điều khiển xe đến Km16+400, đường T thuộc ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An thì S phát hiện phía trước cách xe ô tô khoảng 20m có một vật gì đen đen giống như túi rác ở giữa đường (thực tế là ông Phạm Văn C, sinh năm: 1973, nơi thường trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An say rượu ngồi giữa đường), khi khoảng cách còn khoảng 15m S giảm ga, đạp phanh đồng thời đánh lái sang trái theo chiều di chuyển để tránh vật lạ
trên, tuy nhiên S có cảm giác xe đã va trúng vật lạ, khi đó S đánh lái sang phải để tấp vào lề và dừng xe lại, mọi người trên xe giật mình, tỉnh ngủ, S nói giống như đụng vật gì đó màu đỏ đỏ. Lúc này, Nguyễn Minh Q1, Trần Vinh P cùng S mở cửa bước xuống xe kiểm tra, mọi người nhìn bên hông, phía sau xe, phía trước xe không thấy gì (những người này không có khom xuống nhìn dưới gầm xe), sau khi kiểm tra xong Nguyễn Minh Q1 và Trần Vinh P và S tiếp tục lên xe, Nguyễn Minh Q1 và Trần Vinh P nói là không thấy gì hết, riêng S nghĩ là va chạm túi rác nó văng mất nên S tiếp tục điều khiển xe di chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh, đưa ông Trịnh Mạnh T và ông Trần Vinh P về nhà. Tiếp đó, S điều khiển xe ô tô chở Nguyễn Minh Q1 về nhà Q1 tại cư xá T, quận B, khi tới nhà Nguyễn Minh Q1 vô nhà, S tìm chỗ đậu xe và đem chìa khóa xe lên nhà đưa Nguyễn Minh Q1, lúc này là khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, sau đó S điều khiển xe mô tô về nhà mình ở quận G ngủ.
Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp cùng Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường kết quả như sau:
- Điều kiện thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Ban đêm, ánh sáng đèn đường, đèn pin.
- Tình trạng hiện trường khi có mặt: Hiện trường không còn nguyên vẹn: Nguyên nhân xe ô tô gây tai nạn đã rời khỏi hiện trường.
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường tỉnh lộ 832 tại vị trí Km16+400 thuộc ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Tại vị trí xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng tầm nhìn không hạn chế, có hệ thống đèn đường chiếu sáng ban đêm, mặt đường trải nhựa bằng phẳng có vạch sơn đứt quãng màu vàng chia làm hai phần đường xe chạy. Mặt đường rộng 6,90m; phần đường hướng đường tỉnh 833 đi hương lộ B rộng 3m55.
- Chọn trụ điện số 136 nằm trong lề phải hướng đường T đi hương lộ B làm điểm mốc cố định.
- Chọn mép đường phía bên phải theo hướng đường tỉnh 833 đi hương lộ B làm mép đường chuẩn. Mọi số liệu được đo vuông gốc vào mép đường chuẩn.
- Mô tả hiện trường: Vị trí các dấu vết tại hiện trường được đánh số thứ tự từ 01 đến 04:
- Số 01: Vết trượt màu đen dài 09m30, vết trượt có chiều hướng đường tỉnh 833 đi hương lộ B, vết trượt có độ rộng nhất là 17cm, đầu vết trượt cách điểm mốc cố định (trụ điện 136) là 37m50 và cách mép đường chuẩn là 3m70, cuối vết trượt màu đen cách mép đường chuẩn là 4m30.
- Số 02: Vết trượt màu đen dài 42m có chiều hướng đường tỉnh 833 đi hương lộ B, độ rộng nhất của vết trượt là 32cm. Đầu vết trượt màu đen cách mép đường chuẩn là 03m, cuối vết trượt cách mép đường chuẩn là 0m6. Đầu vết trượt số 02 cách cuối vết trượt số 01 là 2m30.
- Số 03: Vùng vật rơi gồm nhiều mảnh vải nhỏ màu đỏ không rõ hình dạng, kích thước và 01 cúc áo màu trắng. Vùng vật rơi bị vết trượt màu đen số 01 trượt lên có kích thước 55 x 35cm, tâm vùng vật rơi cách mép đường chuẩn là 3m20, cách đầu vết trượt màu đen số 02 là 1m20.
- Số 04: Nạn nhân (Phạm Văn C) nằm ngửa, mặt nghiêng sang phải, tay trái co vào hông, tay phải duỗi gốc 45° theo thân người, chân trái co vào tâm hai chân, chân phải duỗi thẳng. Nạn nhân dài 1m60, đầu nạn nhân hướng về hướng Đông - N, chân nạn nhân hướng về Tây - B (tâm hai chân), đầu nạn nhân nằm cuối vết trượt số 02, cách mép đường chuẩn 0m60, tâm hai chân nạn nhân cách mép đường chuẩn là 1m40.
- Dấu vết, tài liệu thu được: Thu 03 mảnh vải nhỏ màu đỏ không rõ hình và 01 cúc áo màu trắng ở vùng vật rơi.
Cùng thời điểm này, Công an huyện T trích xuất camera an ninh phát hiện xe ô tô bán tải biển số 51D-193.99 là phương tiện gây ra vụ tai nạn làm ông Phạm Văn C tử vong. Qua tra cứu chủ sở hữu xác định phương tiện xe ô tô bán tải biển số 51D-193.99 do chị Nguyễn Thị Như T1, nơi ở: Cư xá T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (chồng là Nguyễn Minh Q1) là chủ sở hữu, khi đó lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện T cùng Cảnh sát giao thông huyện T trực tiếp phối hợp Công an địa phương đến địa chỉ trên để kiểm tra. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 24/2/2024 đã phát hiện xe ô tô biển số 51D-193.99 đỗ tại khu C, tiến hành mời chủ phương tiện làm việc thì được biết Nguyễn Minh Q1 là chồng của Nguyễn Thị Như T1 vào ngày 23/02/2024, Nguyễn Minh Q1 có sử dụng phương tiện trên để về thửa đất tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An. Khi làm việc với Nguyễn Minh Q1 thì ông Q1 mới biết phương tiện xe ô tô biển số 51D-193.99 trên đường về từ huyện T do Lê Ngọc S điều khiển đã gây ra tai nạn làm chết người. Lúc này Q1 điện thoại cho S đến nơi để xe ô tô để Q1 và S chứng kiến lực lượng chức năng khám phương tiện ghi nhận những dấu vết liên quan
vụ tai nạn, thu giữ mẫu nghi máu dính trên xe. Kết quả khám phương tiện xe ô tô biển số 51D-193.99 như sau:
- Về phương tiện, giấy tờ:
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50259960 do Công an Thành phố H cấp ngày 11/8/2023.
- 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB0042535.
- Xe ô tô tải biển số 51D-193.99, nhãn hiệu Chevrolet, số máy HHBG171251385; số khung MMM148MK0JH604202, màu sơn nâu.
- Khám phương tiện:
- Vết số 1: Tại cản trước bên phải của xe có vết trầy xướt cũ kích thước 42cm x 27cm, có điểm cao nhất cách mặt đất là 48cm, có điểm gần nhất cách tâm trục bánh xe trước bên phải của xe là 77cm.
- Vết số 2: Nhiều vết ướt hình chấm nằm ở mặt ngoài vành chắn bùn trước bên phải của xe, vùng vết có kích thước 30 x 16cm, tâm vùng vết ướt cách tâm đầu trục vành xe trước bên phải của xe là 55cm.
- Vết số 3: Vùng vết ướt hình chấm nằm ở mặt ngoài chắn bùn trước ở phía sau bên phải của xe, vùng vết ướt hình chấm có kích thước 17 x 06cm, tâm vùng vết ướt cách tâm đầu trục bánh xe trước bên phải của xe là 52cm.
- Vết số 4: Mặt dưới khung gác chân bên phải (hông xe) của xe có vết màu nâu đỏ không rõ hình dạng có kích thước 11 x 01cm, tâm vết màu nâu đỏ cách tâm đầu trục bánh xe trước bên phải là 1m45.
- Vết số 5: Vết màu nâu đỏ dính trên trục đinh ốc, có kích thước là 3,5 x 01cm, cách tâm vết số 4 là 40cm.
- Vết số 6: Vết ướt trượt nằm ở mặt dưới khung xe bên phải có kích thước 09 x 1,5cm cách tâm trục vết số 5 là 06cm.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái, phanh, đèn chiếu sáng hoạt động bình thường.
Quá trình khám nghiệm lực lượng khám nghiệm thu mẫu dấu vết màu nâu đỏ trên phương tiện tại vị trí má ngoài chắn bùn trước bên phải và trục đinh ốc dưới gầm xe.
Sau khi khám phương tiện xong Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã đưa xe ô tô và mời những người liên quan về Công an huyện T để làm rõ. Tại Công an huyện T những người liên quan đã trình bày rõ vụ tai nạn như nội dung nêu trên.
Tiến hành đo nồng độ cồn qua hơi thở của Lê Ngọc S vào lúc 05 giờ 09 phút ngày 24/02/2024, kết quả 0,000mg/ml; Xét nghiệm ma túy qua nước tiểu của Lê Ngọc S lúc 10 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, kết quả: Âm tính.
Xét nghiệm nồng độ cồn trong máu Lê Ngọc S tại Bệnh viện Đ lúc 12 giờ 33 phút ngày 24/02/2024, kết quả: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Lê Ngọc S là 0,51 mmol/l (trị số bình thường <10,9 mmol/l).
Sau khi đưa phương tiện xe ô tô 51D-193.99 về Công an huyện T, tiến hành kiểm tra lại dấu vết trên phương tiện ghi nhận: Phía dưới gầm xe trên bệ đở kết nối giữa nhíp xe và thân xe của bánh sau bên phải có nhiều giọt dịch màu đỏ đã khô (nghi máu) kích thước nhỏ (khoảng 02 x 02 mm); 02 mẫu vải sợi màu đỏ không rõ hình kích thước 01 x 01mm.
Tiến hành kiểm tra camera hành trình gắn trên xe, không ghi nhận được hình ảnh tại thời điểm xảy ra tai nạn (do dung lượng thẻ nhớ ít, hình ảnh video mới được ghi đè lên đoạn video trước), kiểm tra thiết bị định vị gắn trên ô tô 51D-193.99 (đọc dữ liệu trên điện thoại chủ xe là ông Nguyễn Minh Q1) xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn, phương tiện xe ô tô do Lê Ngọc S điều khiển đã dừng lại 21 giây (dừng lại lúc 22h35'28" và di chuyển đi lúc 22h35'49” ngày 23/02/2024) sau đó di chuyển tiếp về Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua điều tra Lê Ngọc S xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn thì S chỉ nghĩ xe ô tô do ông điều khiển đã va vào túi rác nằm giữa đường và túi rác văng đi mất. Đồng thời lúc dừng xe S, Q1 và P có xuống xe kiểm tra nhưng không ai phát hiện có người nằm dưới gầm xe, S hoàn toàn không nghĩ là đã va chạm vào người làm người đó tử vong. Do đó S mới điều khiển xe ô tô đi tiếp về Thành phố Hồ Chí Minh, S xác định nếu biết là vụ tai nạn làm 01 người tử vong thì S đã ở lại trình báo cơ quan Công an chứ hoàn toàn không cố ý gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm, việc không phát hiện có nạn nhân nằm dưới gầm xe có Q1 và P xuống xe kiểm tra cũng không thấy.
Để làm rõ ý thức của bị cáo sau khi gây tai nạn đã bỏ mặc nạn nhân, đưa xe ô tô đi khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm hình sự hay không. Lúc 22
giờ 30 phút ngày 10/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành dựng lại hiện trường để đánh giá lời khai của bị cáo Lê Ngọc S, nhân chứng liên quan Nguyễn Minh Q1 và Trần Vinh P. Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định: Đánh dấu lại vị trí toàn bộ hiện trường như lúc khám nghiệm hiện trường, đặt nạn nhân (hình nộm có kích thước tương tự như nạn nhân) với tư thế như lúc khám nghiệm.
Tiến hành thực nghiệm cho Lê Ngọc S điều khiển xe ô tô 51D-193.99 từ khoảng cách cách hiện trường khoảng 50m, trên xe có chở Nguyễn Minh Q1, Trần Vinh P, Trịnh Mạnh T. Lê Ngọc S điều khiển xe tránh chướng ngại vật và dừng xe tại vị trí sau khi đã xảy ra tai nạn, khi dừng lại hành động xuống xe của S, Q1 và P xuống xe để kiểm tra xung quanh xe sau đó lên xe di chuyển tiếp là 30 giây.
Kết quả dựng lại hiện trường, xác định vị trí xe ô tô 51D-193.99 sau khi xảy ra tai nạn dừng lại như sau:
- T2 trục bánh trước bên phải xe nằm trong lề cách mép lề chuẩn 0,20m.
- T2 trục bánh trước bên trái xe cách mép lề chuẩn 1,80m.
- T2 trục bánh sau bên phải xe nằm ngay mép lề chuẩn.
- Hình chiếu tâm đầu trục bánh sau bên trái xe cách mép lề chuẩn 2,0m.
Nạn nhân nằm lọt hoàn toàn trong gầm xe.
- T2 đỉnh đầu nạn nhân cách hình chiếu tâm đầu trục bánh sau bên phải xe là 01m.
- T2 đỉnh đầu nạn nhân cách hình chiếu tâm đầu trục bánh sau bên trái xe là 1,75m.
- Gót chân bên trái nạn nhân cách hình chiếu tâm đầu trục bánh trước bên trái là 1,20m.
- Gót chân bên phải nạn nhân cách hình chiếu tâm đầu trục bánh trước bên phải xe là 1,60m.
Qua quan sát hiện trường tại vị trí Lê Ngọc S dừng xe nhận thấy:
- Vùng dưới gầm xe bị che khuất toàn bộ ánh sáng (ánh sáng đèn đường) nếu đi xung quanh sát xe kiểm tra không khom người nhìn vào gầm xe sẽ không phát hiện được nạn nhân.
- Sau khi đo vẽ xác định vị trí xe ô tô 51D-193.99, tiếp tục cho 51D-193.99 tiến về trước thì các bánh xe ô tô không cán lên người nạn nhân.
2. Kết quả trưng cầu giám định; việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
Tại Kết luận giám định tử thi số 132/KLGĐTT-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
1. Các kết quả chính:
* Kết quả khám nghiệm:
- Chấn thương ngực:
- Sây sát da vùng ngực bụng, kích thước (40x25)cm;
- Gãy nhiều xương sườn hai bên;
- Dập rách thùy giữa, thùy dưới phổi phải; dập, rách và đứt hoàn toàn rốn phổi trái;
- Tràn máu khoang màng phổi trái khoảng 1.500ml;
- Dập bao ngoài màng tim, tràn máu bao ngoài màng tim, rách cung động mạch chủ;
- Sây sát da diện tích lớn vùng mặt, cổ và tứ chi; Mày sát da, mất toàn bộ da ở mu bàn tay trái, mày sát một phần xương đốt bàn ngón II, III, IV và đốt gần ngón II, III, IV, V bàn tay trái.
2. Kết luận:
- Nguyên nhân chết: Chấn thương ngực nặng.
- Kết luận khác: Không.
Tại Kết luận giám định độc chất số HST 90/KLGĐĐC-TTPY.2024 ngày 05/03/2024 của Trung tâm pháp y Thành phố H kết luận: Nồng độ ethanol trong máu toàn phần của ông Phạm Văn C là: 432,86 mg/100ml.
Tại Kết luận giám định số 1755/KL-KTHS ngày 09/04/2024 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vết màu nâu đỏ gửi giám định là máu người. Phân tích gen (ADN) từ dấu vết này thu được 01 kiểu gen, trùng với kiểu gen của nạn nhân Phạm Văn C.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Ngọc S đã nhờ ông Nguyễn Minh Q1 bồi thường chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị B số tiền 130.000.000 đồng. Bà Trần Thị B đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo Lê Ngọc S.
Ngày 07/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý đồ vật trả lại cho Nguyễn Minh Q1, tài sản gồm:
- 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát: 59D-193.99; Loại xe bán tải; nhãn hiệu Colorado; màu sơn nâu; Số máy: HHBG171251385; Số khung: MMM148MK0JH604202.
- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 259960, biển kiểm soát 59D-193.99.
- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật của phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 59D-193.99.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSTTr, ngày 05/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ đã truy tố bị cáo Lê Ngọc S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, 38, 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Chủ phương tiện đã bồi thường cho gia đình bị hại 130.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng:
- Trả lại giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Lê Ngọc S do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 23/6/2016 cho bị cáo.
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại giấy phép lái xe nêu trên cho bị cáo.
[8.2] Các vật chứng khác, gồm: 03 mảnh vải nhỏ màu đỏ không rõ hình, 01 cúc áo màu trắng, 02 mẫu vải sợi màu đỏ không rõ hình, kích thích 01 x 01 mm, thu giữ tại hiện trường, tuyên cho tiêu hủy.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50, 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Ngọc S2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 19/9/2024).
Giao bị cáo Lê Ngọc S về Ủy ban nhân dân phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Trả cho bị cáo Lê Ngọc S giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Lê Ngọc S do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 23/6/2016.
- Cho tiêu hủy 03 mảnh vải nhỏ màu đỏ không rõ hình, 01 cúc áo màu trắng, 02 mẫu vải sợi màu đỏ không rõ hình, kích thích 01 x 01 mm, thu giữ tại hiện trường.
Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ đang tạm giữ, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Ngọc S chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thái |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Dễ - Nguyễn Thị Phúc |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thái |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
