TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 18/2024/HSST Ngày 09/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Bào.
Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Thị Thanh và bà Lê Thị Hoà;
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 09/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 26/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 25/4/2024 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc M, tên gọi khác: Tý; sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn 2, xã K, huyện C, tỉnh Đắk Nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Thợ nông cơ; con ông Phạm Thanh Nh và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Vĩnh Thị Thanh X và có 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện bị cáo đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.
*/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- ông Phạm Văn Nh, sinh năm 1960- Có mặt;
- Chị Vĩnh Thị Thanh X, sinh năm 1986- Có mặt;
- Anh Đỗ Quốc Tr, sinh năm 1983- Có mặt;
Trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn T, huyện C, tỉnh Đăk Nông.
Trú tại: thôn 2, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông.
Trú tại: thôn 7, xã Đăk R'la, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 19/12/2023, Phạm Ngọc M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 47P4 – 4031, nhãn hiệu Honda đi đến nhà anh Đỗ Quốc Tr, sinh năm: 1983, trú tại: Thôn 7, xã Đắk Rla, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông để mua gà đá. Tại đây, M cùng một số người bạn của anh Trạng ăn uống đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì nghỉ, mọi người đi về, lúc này M hỏi anh Tr mua một con gà đá thì được anh Tr đồng ý bán cho 01 con với giá 1.000.000 đồng. Sau khi hỏi mua gà xong, M có ý định muốn đi mua pháo hoa nổ nhưng không có tiền mặt nên M hỏi anh Trạng có tiền mặt 17.000.000 đồng không để M chuyển khoản cho anh Tr rồi lấy tiền mặt thì anh Tr đồng ý. Do tiền trong tài khoản của M còn khoảng 15.000.000 đồng nên M nói với anh Tr chuyển khoản trước 12.000.000 đồng, số tiền còn thiếu là 6.000.000 đồng, trong đó 1.000.000 đồng tiền mua gà đá và 5.000.000 đồng tiền đổi tiền mặt M sẽ chuyển sau. Số tiền còn lại trong tài khoản M để làm chi phí đi đường. M sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) hiệu Iphone chuyển khoản cho anh Tr thông qua ứng dụng trên điện thoại số tiền 12.000.000 đồng qua số tài khoản 0868753539 mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển (BIDV) của anh Tr. Sau khi chuyển khoản xong, anh Tr đưa cho M 17.000.000 đồng, nhận gà và tiền xong M điều khiển xe mô tô đến khu vực cửa khẩu Đắk Pơ thuộc huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tìm mua pháo hoa nổ về bán kiếm lời vào dịp tết Nguyên đán năm 2024. Khi đến nơi, M gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch hỏi và mua của người đàn ông này 20 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/01 hộp với giá mỗi hộp là 850.000 đồng, tổng số tiền M mua 20 hộp pháo là 17.000.000 đồng. Thỏa thuận xong thì người đàn ông này bỏ đi khoảng 30 phút sau quay lại, đưa cho Minh 01 thùng các tông và 01 bao tải bên trong chứa tổng cộng 20 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/hộp. M nhận pháo và đưa lại cho người đàn ông này số tiền 17.000.000 đồng. Trong thời gian M đi mua pháo ở khu vực cửa khẩu Đăk Pơ thì có anh Phạm Hoài S chuyển khoản trả nợ cho M số tiền 4.000.000 đồng nên Minh chuyển số tiền 6.000.000 đồng còn thiếu cho anh Trạng lúc lúc 15 giờ 03 phút cùng ngày. Sau khi mua được pháo, M chở 20 hộp pháo về nhà tại thôn 2, xã Cư Knia, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông cất dấu để tìm người có nhu cầu mua pháo bán lại kiếm lời. Khoảng 17 giờ cùng ngày, M chở pháo về đến nhà, đặt thùng pháo ở phòng khách thì bị Công an huyện Cư Jút kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữa toàn bộ tang vật, phương tiện có liên quan.
Tại kết luận giám định số 36/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: 20 hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ “T4049", bên trong mỗi hộp đều có 49 lỗ tròn, bên dưới các lỗ có lớp chất màu trắng ngà liên kết với nhau đựng trong 02 thùng giấy các tông chuyển đến giám định đều là Pháo hoa nổ, tổng khối lượng 34,1 kg.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật còn lại sau khi trích mẫu giám định được hoàn trả hết cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị can Phạm Ngọc M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình.
Bản Cáo trạng số 14/CT - VKS - CJ, ngày 25/3/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc M về tội “Buôn bán hàng cấm”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc M từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của BLHS; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS): Tịch thu tiêu hủy 14 hộp giấy, bên ngoài có in chữ chữ T4049, bên mỗi hộp có 49 lỗ tròn, tổng khối lượng 23,9kg đã được niêm phong. Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đã trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone cho Phạm Ngọc M, 01 xe mô tô BKS số 47P4-4031 cho ông Phạm Thanh Nh.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với hành vi của bị cáo HĐXX xét thấy: Vào lúc 17 giờ 00 phút, ngày 19/12/2023 tại nhà Phạm Ngọc M ở thôn 2, xã K, huyện C, tỉnh Đắk Nông, Công an huyện Cư Jút bắt quả tang Phạm Ngọc M có hành vi cất giữ 20 hộp pháo hoa nổ với tổng khối lượng là 34,1 kg nhằm mục đích bán cho người có nhu cầu mua để kiếm lợi nhuận (số pháo hoa nổ này bị cáo mua của người đàn ông không quen biết tại huyện Đăk Mil, Đăk Nông). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm xử lý bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Phạm Ngọc M phạm tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ........ buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc buôn bán hàng cấm đối với pháo nổ; bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Nhà nước nghiêm cấm cấm kinh doanh, cấm lưu hành pháo nổ. Tuy nhiên do y thức xem thường pháp luật và do động cơ cá nhân hám lợi nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi buôn bán 34,1 kg pháo nổ để nhằm mục đích thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội thì mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, là lao động chính trong do đình; Trong giai đoạn điều tra bị báo đã cung cấp thông tin cho Công an xã Cư Knia để bắt 02 trường hợp thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất mà túy, kết quả Công an xã Cư Knia đã xử phạt vi phạm hành chính đối với 02 trường hợp bị cáo trình báo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét thấy bị cáo Minh là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo có 03 con nhỏ là lao động chính trong gia đình và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội nên cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có cơ hội được tiếp tự học tập, cải tạo dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương.
[7]. Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người có hoàn cảnh khó khăn, phải nuôi 03 con nhỏ ăn học, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo..
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, Điều 46; điểm b, Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2 và điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 14 họp pháo nổ, khối lượng 23,9kg hoàn lại sau giảm định, bên ngoài đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, bên trong mỗi hộp đều có 49 lỗ tròn, được niêm hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút đã 01 điện thoại di động hiệu Iphone cho Phạm Ngọc M; trả xe mô tô BKS: 47P4 – 4031 cho ông Phạm Thanh Nh là các chủ sở hữu hợp pháp.
[9] Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc M chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
[1]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Minh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Ngọc M cho Ủy ban nhân dân xã Cư Knia, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông phối hợp cùng với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
Giao cho Công an huyện Cư Jút tịch thu, tiêu hủy 14 họp pháo nổ, khối lượng 23,9kg hoàn lại sau giảm định, bên ngoài đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “T4049”, bên trong mỗi hộp đều có 49 lỗ tròn, được niêm hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút đã 01 điện thoại di động hiệu Iphone cho Phạm Ngọc M; trả xe mô tô BKS: 47P4 – 4031 cho ông Phạm Thanh Nh là các chủ sở hữu hợp pháp.
[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Buộc bị cáo Phạm Ngọc M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Văn Bào |
* Về thu giữ vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
- + 20 khối hình hộp chữ nhật, có vỏ nhiều màu sắc, bên trên có in chữ nước ngoài, kích thước (17x17x10)cm, được niêm phong trong 02 thùng các tông theo quy định, có chữ ký của Vũ Mạnh Hà, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Xuân Tuyển, Phạm Ngọc Minh và đóng dấu tròn đỏ của Công an xã Cư Knia.
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone XS, màu đen.
- + 01 xe mô tô BKS: 47P4 – 4031, nhãn hiệu Honda, màu đỏ bạc đen.
- - Quá trình điều tra xác định được:
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone XS, màu đen là tài sản của Phạm Ngọc Minh không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Xe mô tô BKS: 47P4 - 4031là tài sản của ông Phạm Thanh Nhã, sinh năm: 1960, trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn Ea T'ling, huyện Cư Jút, cuối năm 2022 ông Nhã cho con dâu là chị Vĩnh Thị Thanh Xuân, sinh năm: 1986 (vợ Phạm Ngọc Minh) mượn làm phương tiện đi lại, ngày 19/12/2023 Minh tự ý sử dụng chiếc xe trên sau đó sử dụng làm phương tiện chở pháo nổ, ông Nhã và chị Xuân không biết.
- Ngày 22/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 154, trả 01 ĐTDĐ hiệu Iphone XS, màu đen cho Phạm Ngọc Minh và xe mô tô BKS: 47P4 – 4031 cho ông Phạm Thanh Nhã là các chủ sở hữu hợp pháp.
Bản án số 18/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: buôn bán pháo nổ trái phép
