|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kim Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Tiệp
- Bà Nguyễn Thị Hồng Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 446/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 68 /2024/QÐST-HNGĐ ngày 02/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Vân A, sinh năm: 1977; Nơi thường trú: Thôn K, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm: 1975; địa chỉ: Thôn K, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Vân A trình bày: Năm 1998, bà và ông Phan Văn T tự tìm hiểu yêu thương và tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Q. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2009 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, nguyên nhân do ông T cờ bạc, nhậu say về chửi bới, xúc phạm, hăm dọa, đánh đuổi vợ con ra khỏi nhà, bà và gia đình hai bên nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T vẫn không thay đổi tính tình, cách sống, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Từ tháng 9/2023 đến nay bà về nhà cha mẹ đẻ sinh sống. Nay bà Trần Thị Vân A yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn T.
- Về con chung: Có 02 con chung là Phan Thị Phúc T1, sinh năm: 1999 và Phan Thanh H, sinh ngày: 17/4/2009. Đối với cháu Phan Thị Phúc T1 đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, bà A xin nuôi cháu H, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phan Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Thị Vân A tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, đăng ký kết hôn năm 1998 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, ông Thành công n những lúc nhậu về ông có chửi bới, xúc phạm bà A, bà A bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 9/2023 đến nay. Nay, ông còn thương yêu vợ, con nên không đồng ý ly hôn, mong muốn hàn gắn, đoàn tụ.
Về con chung: Có 02 con chung là Phan Thị Phúc T1, sinh năm: 1999 và Phan Thanh H, sinh ngày: 17/4/2009. Đối với cháu Phan Thị Phúc T1 đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, ông T thống nhất giao con là Phan Thanh H cho bà A nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Vân A về việc ly hôn với ông Phan Văn T. Về con chung: Cháu Phan Thị Phúc T1 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không xem xét, giao cháu Phan Thanh H, sinh ngày 17/4/2009 cho bà A nuôi dưỡng, ông T cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Tài sản chung: Tự thỏa thuận giải quyết. Nợ chung: Không có. Bà A, ông T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Phan Văn T có nơi cư trú hiện nay tại Thôn K, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Vân A có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phan Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, không vì trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà bà A, ông T.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Năm 1998, bà Trần Thị Vân A và ông Phan Văn T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Vân A và ông Phan Văn T là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn: Theo bà Trần Thị Vân A trình bày: Năm 2009 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nguyên nhân do ông T cờ bạc, nhậu say về chửi bới, xúc phạm, hăm dọa, đánh đuổi vợ con ra khỏi nhà, bà và gia đình hai bên nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T vẫn không thay đổi tính tình, cách sống, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ tháng 9/2023 đến nay bà về nhà cha mẹ đẻ sinh sống. Nay, bà Trần Thị Vân A xin ly hôn với ông Phan Văn T. Về phía ông Phan Văn T trình bày: Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, ông Thành công n những lúc nhậu về ông có chửi bới, xúc phạm bà A, từ tháng 9/2023 đến nay bà A bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay, ông còn thương yêu vợ, con nên không đồng ý ly hôn, mong muốn hàn gắn, đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để động viên bà A và ông T hàn gắn, đoàn tụ nhưng bà A kiên quyết ly hôn. Do đó, có căn cứ để xác định mâu thuẫn giữa bà A và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Vân A; bà Trần Thị Vân A được ly hôn với ông Phan Văn T.
[3.2] Về con chung: Bà A và ông T có 02 con chung là Phan Thị Phúc T1, sinh năm: 1999, đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, cháu Phan Thanh H, sinh ngày 17/4/2009. Khi ly hôn, bà A xin nuôi cháu H, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Ông T có ý kiến trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn ông thống nhất giao con là Phan Thanh H cho bà A nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi con Phan Thanh H mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Xét thấy, cháu H có nguyện vọng sống cùng bà A, để đảm bảo phát triển về mọi mặt và ổn định việc học tập cho cháu H, Hội đồng xét xử giao cháu H cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông T cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng, cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi cháu H tính từ tháng 5/2024 theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
[3.3] Về tài sản chung: Bà Trần Thị Vân A và ông Phan Văn T tự thoả thuận giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Nợ chung: Bà Trần Thị Vân A và ông Phan Văn T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Bà Trần Thị Vân A phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, ông Phan Văn T2 phải nộp 300.000 đồng án phí về phần cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Vân A. Bà Trần Thị Vân A được ly hôn với ông Phan Văn T.
2. Về con chung: Bà A và ông T có 02 con chung là Phan Thị Phúc T1, sinh năm 1999, đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không xem xét. Giao cháu Phan Thanh H, sinh ngày 17/4/2009 cho bà Trần Thị Vân A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông Phan Văn T cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng, cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 5/2024.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Vân A và ông Phan Văn T tự thoả thuận giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Nợ chung: Bà Trần Thị Vân A và ông Phan Văn T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Bà Trần Thị Vân A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000852 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Ông Phan Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
6. Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Loan |
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRẦN THỊ VÂN A - PHAN VĂN T, LY HÔN
