Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI

Bản án số:18/2024/HS-ST

Ngày 19/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Xuân Hoả và ông Cao Hoàng Dân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:13/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và thông báo hoãn phiên toà số:05/TB-TA ngày 15/4/2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: HOÀNG VĂN L, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Hoàng Xuân N và bà Lê Thị H; vợ Vũ Thị N1, sinh năm 1994; con có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 28 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Nhân thân: ngày 10/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội: Đánh bạc, đã được xoá án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  2. Họ và tên: NGUYỄN VĂN H1, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn H2 và bà Bạch Thị G; vợ Nguyễn Thị Á, sinh năm 1991; con có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 25 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  3. Họ và tên: NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1984; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn A, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; Con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị K (đều đã chết); Vợ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984; con có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 27 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  4. Họ và tên: HOÀNG MẠNH CHUẨN, sinh năm 1980; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là Đảng viên Đ2 sinh hoạt tại chi bộ thôn H, bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số:120-QĐ/UBKTHU ngày 20/3/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy M1; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Hoàng Văn M và bà Nguyễn Thị P; Vợ Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989; con có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 24 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  5. Họ và tên: ĐỊNH CHUNG HIẾU, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Đinh Văn Đ và bà Trần Thị T2; Vợ Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 2000; con có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 23 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội. Nhân thân: ngày 29/6/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng an treo, về tội: Tổ chức đánh bạc, đã được xoá án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  6. Họ và tên: NGUYỄN VĂN N2, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Lê Thị H4; Vợ Chu Thúy N3, sinh năm 1983; con có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 26 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  7. Họ và tên: HOÀNG VĂN T4, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Hoàng Văn L2 và bà Trần Thị L3; Vợ Trần Thị C, sinh năm 1993; con có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 29 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà

  8. Họ và tên: TRẦN TUẤN A, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn A, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Văn N4 (đã chết) và bà Trần Thị A1; Vợ Vũ Thị P1, sinh năm 1994; con có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 22 lập ngày 23/01/2024 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm khi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1991, Có mặt.

Trú tại: thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 22/12/2023, tổ công tác Đ3 - Công an huyện M đã kiểm tra, bắt quả tang tại nhà ở của Hoàng Văn L4, sinh năm 1988, trú tại thôn H, xã A, huyện M, TP Hà Nội các đối tượng có hành vi đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh liêng, bao gồm: Nguyễn Văn H5; Hoàng Văn T5; Hoàng Mạnh C1; Nguyễn Văn N5; Hoàng Văn L4 (cùng trú tại thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội). Trần Tuấn A2; Nguyễn Văn T6 (cùng trú tại thôn A, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội) và Đinh Chung H6, trú tại thôn H, xã A, huyện M, TP Hà Nội. Tang vật thu giữ gồm:

Thu giữ tại chiếu bạc: 02 bộ bài tú lơ khơ và số tiền 9.780.000 đồng.

Thu giữ trên người các đối tượng số tiền gồm: Nguyễn Văn H5: 8.300.000 đồng; Hoàng Văn T5: 500.000 đồng; Hoàng Mạnh C1: 15.000 đồng; Trần Tuấn A2: 2.300.000 đồng; Nguyễn Văn N5: 10.000 đồng; Đinh Chung H6: 1.000.000 đồng; Nguyễn Văn T6: 10.000 đồng.

Quá trình điều tra xác minh làm rõ:

Sáng ngày 22/12/2023, sau khi đánh cá tại nhà Hoàng Văn L4 đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì Nguyễn Văn N5, Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn H5, Đinh Chung H6, Hoàng Văn T5, Nguyễn Văn T6, Hoàng Văn L4 và Trần Tuấn A2 rủ nhau chơi đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh liêng tại phòng khách nhà Hoàng Văn L4 tại thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Quá trình chơi không có ai tổ chức, thu phế, không có ai làm tín dụng hay canh gác. Tất cả chơi đến 14 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ tang vật và đưa về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Các đối tượng thống nhất cách thức chơi như sau: Mỗi ván bài, mỗi người bỏ số tiền 20.000đồng vào giữa chiếu bạc (gọi là tiền “gà”), sau đó, có một người cầm bộ bài 52 quân chia cho mỗi người chơi 03 quân bài, người chơi sẽ dấu kín bài của mình và bỏ tiền vào “tố”. Người chia bài “tố” đầu tiên, tiếp đến lần lượt theo chiều kim đồng hồ đến người chơi tiếp theo, người nào thấy bài của mình xấu thì có thể không bỏ tiền vào “tố” và thua ván bài đó. Số tiền “tố” tối thiểu là 20.000đồng và tối đa là 200.000đồng. Ván bài kết thúc khi không còn ai bỏ tiền vào “tố”. Người thắng ván bài là người bỏ tiền vào tố nhiều nhất và người này được hưởng toàn bộ số tiền “tố” và tiền “gà” mà những người chơi khác đã bỏ ra. Nếu có nhiều người bỏ số tiền “tố” bằng nhau thì sẽ lật bài để so sánh.

- Hoàng Văn L4 khai: Khoảng 11 giờ ngày 22/12/2023, có Nguyễn Văn N5, Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn H5, Đinh Chung H6, Hoàng Văn T5, Nguyễn Văn T6 đến nhà chơi và rủ nhau đánh bạc sát phạt bằng tiền, khi đấy L4 đang đánh cá dưới ao nên không biết và khi đánh cá xong về nhà thấy mọi người đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tại phòng khách nhà mình. Đến 12 giờ 30 phút, Trần Tuấn A2 đến chơi, Lưu đưa 500.000đồng cho Tuấn A2 và nhờ chơi hộ, không biết thắng thua thế nào vì tiền để dưới chiếu bạc, đến 14 giờ 45 thì bị bắt quả tang.

- Nguyễn Văn H5 khai: Sáng ngày 22/12/2023, H5 đến nhà Lưu chơi, đến 11 giờ mọi người rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền gồm: Hoàng Văn T5, Nguyễn Văn N5, Hoàng Mạnh C1, Đinh Chung H6, một lúc sau thì có Nguyễn Văn T6, Trần Tuấn A2 đến cùng tham gia đánh bạc. Hoàng Văn L4 ngồi sau Tuấn A2 ăn cơm và xem đánh bạc. Khi đi mang theo 9.300.000đồng, sử dụng 1.000.000đồng để đánh bạc, còn số tiền 8.300.000đồng thu giữ trên người không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt H5 đánh thắng nhưng không biết thắng bao nhiêu tiền vì tiền để dưới chiếu bạc.

- Nguyễn Văn T6 khai: Trưa ngày 22/12/2023, đến nhà Hoàng Văn L4 chơi thì thấy mọi người đang tham gia đánh bạc gồm: Hoàng Văn T5, Nguyễn Văn N5, Hoàng Mạnh C1, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn H5. Khi T6 đi mang theo 10.000đồng, hỏi vay Lưu 2.000.000đồng để sử dụng mục đích cá nhân, sau sử dụng toàn bộ tiền để đánh bạc. Đến khi bị bắt còn 10.000đồng trên người. Tiền đánh bạc để dưới chiếu bạc không rõ thắng thua.

- Hoàng Mạnh C1 khai: Sáng 22/12/2023, C1 đến nhà L4 chơi cùng với Hoàng Văn T5, Nguyễn Văn N5, Nguyễn Văn T6, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn H5, đến khoảng 11 giờ mọi người rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh liêng, một lúc sau có Hoàng Văn T7 và Trần Tuấn A2 đến cùng tham gia, C1 chơi đến 12 giờ 30 thì về nhà ăn cơm, 13 giờ 30 tiếp tục đến chơi. Khi tham gia mang theo 1.515.000đồng, đến khi bị bắt trên người còn 15.000đồng. Toàn bộ số tiền đánh bạc để dưới chiếu bạc, không rõ thắng hay thua.

- Đinh Chung H6 khai: Sáng ngày 22/12/2023, đến nhà Hoàng Văn L4 chơi, tại đây gặp Hoàng Văn T5, Nguyễn Văn N5, Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn H5, mọi người rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh liêng sát phạt nhau bằng tiền, L4 đồng ý để mọi người tham gia đánh bạc tại nhà mình. Quá trình đánh bạc có Nguyễn Văn T6 và Trần Tuấn A2 đến cùng tham gia đánh bạc, Lưu ngồi sau Tuấn A2 ăn cơm và xem đánh bạc. Khi đi không mang theo tiền nên vay anh L4 1.000.000đồng. Toàn bộ tiền thắng để dưới chiếu bạc, còn cất giữ 1.000.000đồng trên người.

- Nguyễn Văn N5 khai: Sáng ngày 22/12/2023, đến nhà Hoàng Văn L4 chơi, tại đây gặp Hoàng Văn T5, Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn H5, Đinh Chung H6, mọi người rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh liêng sát phạt nhau bằng tiền, L4 đồng ý để mọi người tham gia đánh bạc tại nhà mình. Quá trình đánh bạc có Nguyễn Văn T6 và Trần Tuấn A2 đến cùng tham gia đánh bạc, Lưu ngồi sau Tuấn A2 ăn cơm và xem đánh bạc, hướng dẫn Tuấn A2 chơi (sau này mới biết Tuấn A2 đánh bạc hộ L4). Khi tham gia có 1.000.000đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt trên người còn 10.000đồng. Toàn bộ số tiền đánh bạc để dưới chiếu bạc, không rõ thắng thua.

- Hoàng Văn T5 khai: Sáng ngày 22/12/2023 đến nhà Hoàng Văn L4 chơi gặp Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn H5, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn N5, mọi người rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền tại nhà L4, L4 đồng ý cho mọi người tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc có Nguyễn Văn T6 và Trần Tuấn A2 đến cùng tham gia đánh bạc, Lưu không tham gia đánh bạc mà ngồi sau Tuấn A2 xem. Tham gia chơi từ 12 giờ đến khi bị bắt. Khi đi mang theo 680.000đồng, bỏ ra 180.000đồng để đánh bạc. Số tiền 500.000đồng cất giữ trên người chưa sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt đang thắng 200.000đồng, toàn bộ tiền đánh bạc để dưới chiếu bạc.

- Trần Tuấn A2 khai: Khoảng 12h30 ngày 22/12/2023, Tuấn A2 đến nhà Lưu chơi thì thấy Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn H5, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn N5, Nguyễn Văn T6 đang chơi đánh bạc dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền tại phòng khách nhà L4, còn L4 đang cầm bát cơm ngồi cạnh để xem, thấy Tuấn A2 đến L4 đưa 500.000đồng nhờ chơi hộ vì L4 đang ăn cơm nên không tiện chơi. Tuấn A2 đồng ý tham gia đánh bạc bằng tiền của L4. Đến khi bị bắt toàn bộ tiền chơi bài cho L4 để dưới chiếu bạc. Số tiền 2.300.000đồng thu giữ trên người không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình chơi không được hưởng lợi gì từ việc chơi hộ L4.

Chị Vũ Thị N1 - sinh năm 1994 là vợ của L4 khai: Sáng ngày 22/12/2023, chị N1 ở nhà thì thấy có một số người là anh em, bạn bè của L4 đến nhà chơi. Sau khi ăn cơm xong thì chị N1 đi ngủ tại phòng riêng không để ý những người này làm gì. Mọi người rủ nhau đánh bạc lúc nào chị cũng không biết vì lúc đó chị đã đi ngủ rồi. Khi công an vào bắt quả tang chị mới biết những người trên đánh bạc ở nhà chị.

Cơ quan điều tra thu giữ trong người Hoàng Văn H7 số tiền 8.300.000đồng và số tiền 2.300.000đồng thu giữ trên người Trần Tuấn A2, các bị cáo khai số tiền đó không sử dụng vào mục đích đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã xác minh các bị cáo không sử dụng số tiền trên để đánh bạc.

Tang vật chuyển theo hồ sơ vụ án: 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân; số tiền 21.915.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Tại Cáo trạng số: 09/CT-VKS-HS ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Hoàng Văn L4, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn T6, Hoàng Mạnh C1, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn N5, Hoàng Văn T5 và Trần Tuấn A2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:

Hoàng Văn L4 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đinh Chung H6 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt tiền đối với:

  • Nguyễn Văn H5 từ 20 đến 25 triệu đồng;
  • Nguyễn Văn T6 từ 20 đến 25 triệu đồng;
  • Hoàng Mạnh C1 từ 20 đến 25 triệu đồng;
  • Nguyễn Văn N5 từ 20 đến 25 triệu đồng;
  • Hoàng Văn T5 từ 20 đến 25 triệu đồng;
  • Trần Tuấn A2 từ 20 đến 25 triệu đồng.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 bộ tú lơ khơ mỗi bộ gồm 52 quân bài. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền dùng để đánh bạc: 11.315.000đồng; Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H5 8.300.000đồng và bị cáo Trần Tuấn A2 2.300.000đồng vì số tiền này không dùng vào việc đánh bạc, tuy nhiên cần bảo lưu để đối trừ đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Các bị cáo đều trình bày đã nhận thức ra hành vi phạm tội của mình và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 14 giờ 45 phút ngày 22/12/2023 tại nhà ở của Hoàng Văn L4, thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn T6, Hoàng Mạnh C1, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn N5, Hoàng Văn T5, Hoàng Văn L4, Trần Tuấn A2 đánh bạc sát phạt nhau được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng. Trong đó, Trần Tuấn A2 tham gia đánh bạc giúp sức cho Hoàng Văn L4 nhờ cầm bài hộ và đánh bằng tiền của L4. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 11.315.000đồng.

Theo Khoản 1 Điều 321 BLHS quy định về Tội đánh bạc:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn T6, Hoàng Mạnh C1, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn N5, Hoàng Văn T5, Hoàng Văn L4 và Trần Tuấn A2 đã phạm vào tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ và đúng pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và tệ nạn cờ bạc là một trong nhưng nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Cần phải có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm giáo dục và cải tạo các bị cáo trở thành người tốt và đáp ứng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về vai trò của các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo chơi bạc bằng hình thức đánh “Liêng” nên vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Hoàng Văn L4 là chủ nhà tuy nhiên khi các bị cáo H5, C1, N5, T5 và H6 đến rủ nhau chơi đánh bạc, bị cáo đang đánh cá dưới ao. Sau khi về nhà thấy các bị cáo đánh bạc, bị cáo đưa 500.000đồng để nhờ Trần Tuấn A2 tham gia đánh bạc giúp bị cáo. Bị cáo cho Nguyễn Văn T6 vay 2.000.000đồng và cho Đinh Chung H6 vay 1.000.000đồng trước thời điểm đánh bạc và không biết biết H6 và T6 vay tiền để đánh bạc. Bị cáo ngày 10/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội: Đánh bạc, đã được xoá án tích. Từ sau khi được xóa án tích, bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật không vi phạm gì. Bị cáo Đinh Chung H6 không có tiền nên vay của Hoàng Văn L4 1.000.000đồng chi tiêu cá nhân, sau đó đã dùng để đánh bạc. Bị cáo ngày 29/6/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội: Tổ chức đánh bạc, đã được xoá án tích. Từ sau khi được xóa án tích, bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật không vi phạm gì. Nay hai bị cáo lại phạm tội, vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm cao hơn các bị cáo khác để cải tạo và giáo dục hai bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo bởi: Từ sau khi được xóa án tích, hai bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật không vi phạm gì và được thôn, Ủy ban nhân dân xã A nơi hai bị cáo cư trú xác nhận trong những năm gần đây luôn gương mẫu đi đầu vận động, đóng góp ủng hộ các quỹ tình nghĩa và các phong trào địa phương phát động; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải; số tiền hai bị cáo sử dụng để tham gia đánh bạc không lớn. Bị cáo Hoàng Văn L4 có bố đẻ là ông Hoàng Xuân N tham gia kháng chiến và là thương binh 4/4, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hai bị cáo được hưởng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện như đề nghị của Đ1 diện Viện kiểm sát là phù hợp. Đồng thời để hai bị cáo có điều kiện lao động chăm sóc gia đình và tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Nguyễn Văn H5 sử dụng 1.000.000đồng vào đánh bạc; bị cáo Nguyễn Văn T6 mang theo 10.000đồng và vay của Hoàng Văn L4 2.000.000đồng để chi tiêu cá nhân, sau đó dùng số tiền 2.010.000đồng vào đánh bạc; bị cáo Hoàng Mạnh C1 sử dụng 1.515.000đồng để đánh bạc, bị cáo Nguyễn Văn N5 dùng 1.000.000đồng để đánh bạc, bị cáo Hoàng Văn T5 dùng 680.000đồng để đánh bạc; bị cáo Trần Tuấn A2 đánh bạc với vai trò giúp sức cho bị cáo L4 và sử dụng 500.000đồng của L4 để đánh bạc, không sử dụng tiền của bị cáo đánh bạc. Các bị cáo đều có các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền dùng để đánh bạc 11.315.000 đồng.

Đối với số tiền 8.300.000đồng thu trong người bị cáo Nguyễn Văn H5, quá trình điều tra và tại phiên toà đã chứng minh số tiền 8.300.000đồng là tiền của hai vợ chồng H5, do vợ là chị Nguyễn Thị Á đưa H5 đi đặt cọc mua lợn của anh Lê Văn T8, sinh năm 1987. Trú tại: thôn A, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội, bị cáo H5 không dùng số tiền trên để đánh bạc. Số tiền 2.300.000đồng thu giữ trong người bị cáo Trần Tuấn A2 quá trình điều tra và tại phiên toà cũng đã chứng minh và làm rõ bị cáo Trần Tuấn A2 chỉ đánh bạc giúp sức L4 bằng số tiền 500.000đồng của L4 đưa, bị cáo Tuấn A2 không dùng số tiền 2.300.000đồng để đánh bạc. Vì vậy, cần trả lại cho bị cáo H5 và bị cáo Tuấn A2 số tiền thu giữ trên nhưng cần bảo thủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố:

    Bị cáo Hoàng Văn L4, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn T6, Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn N5, Hoàng Văn T5, Trần Tuấn A2 phạm tội “Đánh bạc".

  2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:

    Hoàng Văn L4 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/4/2024.

    Đinh Chung H6 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/4/2024.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt tiền đối với:

    Nguyễn Văn H5 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

    Nguyễn Văn T6 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

    Hoàng Mạnh C1 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

    Nguyễn Văn N5 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

    Hoàng Văn T5 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

    Trần Tuấn A2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

    Giao bị cáo Hoàng Văn L4Đinh Chung H6 cho UBND xã A, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

    Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân.
    • Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền dùng để đánh bạc 11.315.000 đồng.
    • Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H5 số tiền: 8.300.000đồng và bị cáo Trần Tuấn A2 số tiền: 2.300.000đồng nhưng bảo thủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

    Những tang vật trên hiện do Chi cục thi hành án Dân sự quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện M và ủy nhiệm chi ngày 25/3/2024 vào tài kho ản 3949.0.1052758.00000 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội tại Kho bạc nhà nước huyện M.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Hoàng Văn L4, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn T6, Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn N5, Hoàng Văn T5, Trần Tuấn A2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo Hoàng Văn L4, Đinh Chung H6, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn T6, Hoàng Mạnh C1, Nguyễn Văn N5, Hoàng Văn T5, Trần Tuấn A2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/4/2024. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Á có mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - CA huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tội đánh bạc (crime of gambling)

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội đánh bạc (Crime of Gambling)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger