|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HS-PT Ngày: 18/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Vũ Duy Luân
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H và Phạm Tùng D do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSPT-QĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024;
Bị cáo có kháng cáo:
1. Lưu Văn T, sinh ngày 05/11/2000 tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn L, sinh năm 1967 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1972; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến ngày 23/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, đến ngày 29/01/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
2. Vũ Quang H, sinh ngày 04/7/2003 tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Quang H1, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến ngày 23/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, đến ngày 29/01/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
3. Phạm Tùng D, sinh ngày 06/10/2001 tại thị xã S, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn L, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Tùng L1 (đã chết) và bà Phùng Thị Á, sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến ngày 24/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, đến ngày 29/01/2014 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
Các bị cáo Nguyễn Thị T2, Nguyễn Tuấn A không kháng cáo, không bị kháng nghị và các bị hại không kháng cáo không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 02/2023, Lưu Văn T tìm kiếm và mua 07 trang trên mạng xã hội Facebook có nhiều người theo dõi (mỗi trang từ khoảng 600 đến 700 người like) đủ điều kiện để T đăng bài quảng cáo trên mạng xã hội. Các tài khoản Facebook trên được T đổi tên thành “THẦY THÁI LAN”, “Thầy Dân Tộc Mường”, “Phép Y Thầy M1”, “Bùa Thái Lan K”, “Thầy M2 Điện Biên”, “Bản Sắc Dân Tộc Mường”, “Bùa Yêu Thái Lan” và tìm kiếm các hình ảnh, video về các hoạt động cúng, lễ, bùa ngải hoặc mê tín dị đoan trên mạng đăng tải lên các tài khoản Facebook trên. T sử dụng các câu lệnh và thao tác chạy quảng cáo để tiếp cận, những người độ tuổi từ 22 đến 44 có đời sống tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, lận đận chuyện tình duyên hoặc muốn trói buộc người mình yêu. Sau đó, xây dựng kịch bản với nội dung tiếp cận những người trên và dùng thủ đoạn gian dối đưa ra những thông tin không đúng sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của những người này. Để thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T rủ những người rủ những người bạn gồm Vũ Quang H, Nguyễn Thị T2, Phạm Tùng D và Nguyễn Tuấn A cùng thực hiện. T là người lập nhóm, thuê địa điểm, cung cấp máy tính, điện thoại, xây dựng kịch bản, quản lý và chịu trách nhiệm sử dụng các câu lệnh, thao tác chạy đăng bài quảng cáo trên 07 trang đã lập nhằm tiếp cận đến người dùng Facebook; tạo 02 nhóm Z là “VP Freelance” và “Sale Hỗ Trợ Đơn Freelance” để trao đổi công việc, thông báo các trường hợp lừa thành công, quản lý nguồn tiền của những người bị hại chuyển đến (chuyển khoản hoặc hoặc qua các đơn vị vận chuyển), thanh toán các chi phí sinh hoạt, ăn uống, thuê nhà, chạy quảng cáo, trả tiền công cho T2, H, D, Tuấn A. T phân công nhiệm vụ cho từng người trong nhóm cụ thể: T2 là người mở tài khoản số 1035332182 tại Ngân hàng TMCP N1 (V), chủ tài khoản mang tên Nguyễn Thị T2 để T sử dụng tài khoản trên vào việc lừa đảo của nhóm; giúp T trong việc quản lý, lo việc ăn uống, nhắc nhở (H, D, Tuấn A) làm việc. H sử dụng Zalo “Thầy H2” đăng ký bằng số điện thoại di động 0394.538.xxx của H nhắn tin, gọi điện với các tài khoản Facebook đã liên hệ với các tài khoản Facebook của nhóm, dựa theo kịch bản đã chuẩn bị để nói chuyện với bị hại (mảng S) và khi người trong nhóm lừa được người bị hại mua bùa, ngải, trà hoặc vật phẩm thông báo lên nhóm, H là người nhập thông tin, đóng gói đem hàng đến đơn vị vận chuyển để chuyển đi. Phạm Tùng D sử dụng Zalo “Thích Quảng T3” đăng ký bằng số điện thoại di động 0392.819.xxx của D; Nguyễn Tuấn A sử dụng Zalo “Lò Công Sơn” được đăng ký bằng số điện thoại di động 0385.812.xxx của Tuấn A nhắn tin, gọi điện để dẫn dắt, dụ dỗ, đe dọa người bị hại chuyển tiền làm lễ hoặc mua các vật phẩm (mảng Sale). T đưa kịch bản cho H, D, Tuấn A học thuộc, qua Facebook, Z hoặc điện thoại liên lạc với những người có đời sống tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, lận đận chuyện tình duyên hoặc muốn trói buộc người mình yêu, giới thiệu là thầy cúng. Qua việc nhắn tin nói chuyện qua lại, biết được hoàn cảnh và mong muốn của họ; H, D và Tuấn A dựa vào đó đưa ra những thông tin gian dối phù hợp với hoàn cảnh của từng người như phải làm canh lễ cúng hoặc phải mua những vật phẩm tâm linh giá trị thấp (hình nhân sứ, rùa sứ, dầu, bùa ngải, trà mát gan) để cúng và yêu cầu họ cung cấp thông tin để làm lễ mới thay đổi được số mệnh như mong muốn của họ. Do tin tưởng thông tin nhóm thành đưa ra là thật nên những người trên đã cung cấp thông tin theo yêu cầu, đồng ý làm lễ và mua những vật phẩm tâm linh để cúng. Mặc dù không dùng hình nhân sứ, rùa sứ, dầu, trà mát gan để cúng, không làm lễ nhưng vẫn thông báo cho họ đã làm lễ và yêu cầu chuyển tiền làm lễ và tiền mua vật phẩm tâm linh với giá cao để chiếm đoạt tài sản.
Bằng thủ đoạn nêu trên, nhóm của T đã thực hiện hành vi lừa đảo 09 người gồm: Anh Y Năm M3; anh Nguyễn Hữu D1; chị Đỗ Thị H3; chị Khổng Minh N; anh Lò Văn L2; anh Ma Văn T4; chị Lưu Thị H4; anh Phạm Văn T5; chị Trần Thanh T6, cụ thể:
Tháng 02/2023, anh Y Năm M3 do đang có mâu thuẫn với vợ nên khi sử dụng tài khoản Facebook “Y Năm M3” của mình thấy trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” đăng quảng cáo “bùa ngải” có thể hàn gắn hạnh phúc gia đình. Anh đã gửi tin nhắn vào trang trên và có người giới thiệu là thầy hứa hẹn làm lễ để vợ anh quay lại yêu thương, anh đã gửi thông tin cá nhân và ảnh của anh và vợ để làm lễ. Sau đó, nhận được thông báo đã làm lễ xong và gửi vật phẩm tâm linh (mảnh giấy, vòng tay, hình nhân) và yêu cầu anh thanh toán 1.000.000 đồng tiền làm lễ. Với thủ đoạn như trên, Vũ Quang H đã lừa anh Y Năm Mlô tổng số tiền là 22.450.000 đồng gồm: 10.950.000 đồng chuyển khoản (các ngày 02/4/2023; 12/4/2023; 08/6/2023; 27/6/2023) và 11.500.000 đồng thanh toán cho người giao hàng (các ngày 27/02/2023; 07/3/2023; 18/03/2023; 11/5/2023; 31/5/2023).
Do đường tình duyên lận đận nên anh Nguyễn Hữu D1 trong khi sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Nguyễn Hữu D1” thấy đăng bài quảng cáo trên trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” thầy H2 có thể làm bùa yêu, bùa trói yêu hút duyên, hút tài của nhóm do Thành lập. Sau khi trình bày gia cảnh, được thầy tư vấn phải làm lễ cắt duyên âm, anh D1 đã tin tưởng và đồng ý để thầy làm lễ. Sau đó, nhóm của T5, H gửi cho D1 03 sợi chỉ, 03 chiếc lá khô và yêu cầu anh D1 chuyển trả H số tiền 2.000.000 đồng (ngày 27/2/2023 số tiền số tiền 5.00.000 đồng, ngày 09/3/2023 chuyển số tiền 1.500.000 đồng).
Tháng 5/2023, trong quan hệ vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không giải quyết được nên chị Đỗ Thị H3 khi sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Huệ Nhi” thấy đăng bài quảng cáo trên trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” thầy H2 có thể làm bùa yêu, bùa trói yêu hút duyên, hút tài lộc. Ngày 06/5/2023, chị gửi tin nhắn trình bày gia cảnh và thông tin cá nhân. Sau đó T7 (H) tư vấn phải làm lễ và mua các vật phẩm tâm tâm linh gồm 01gương hình bát quái, 01 lọ dầu, 01 lọ nước. Vào các ngày 06/5/2023, 12/5/2023, 18/5/2023 và 30/5/2023 chị H3 đã được thông báo đã làm lễ xong, nhận được những vật phẩm tâm linh trên và chuyển cho H số tiền 4.500.000 đồng.
Do đã ly hôn chồng và đang yêu người ở xa, muốn tình cảm thêm bền chặt nên chị Khổng Minh N khi sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Khổng Nguyệt” thấy đăng bài quảng cáo trên trang Facebook “Phép Yêu Thầy Mường” có thể giải bùa yêu, gắn kết tình cảm hút duyên nên ngày 12/6/2023 đã gửi tin nhắn trình bày gia cảnh và thông tin cá nhân cho nhóm của T5. Ngày 19/6/2023, chị N nhận thông báo đã được thầy làm lễ, nhận vật phẩm tâm linh là 01 con rùa làm bằng sứ và yêu cầu chị N chuyển tiền làm lễ và tiền vật phẩm với tổng số tiền là 16.000.000 đồng.
Do có vướng mắc trong chuyện tình cảm nên anh Ma Văn T4 khi sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Văn Thông” thấy bài quảng cáo trên trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” giới thiệu về việc làm lễ cầu tình duyên nên ngày 29/6/2023 đã gửi tin nhắn trình bày hoàn cảnh và thông tin cá nhân cho Vũ Quang H. Các ngày 01/7/2023, 04/7/2023 và 13/7/2023, anh T4 được thông báo đã được thầy làm lễ, nhận vật phẩm tâm linh là: 02 lọ thủy tinh đựng nước, 01 gói nhỏ chứa lá khô và yêu cầu anh T4 chuyển tiền làm lễ và tiền vật phẩm với tổng số tiền 3.500.000 đồng.
Do có mâu thuẫn với vợ nên anh Lò Văn L2 khi sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Lò Long” thấy đăng bài quảng cáo trên trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” giới thiệu về việc làm lễ cầu tình duyên nên ngày 22/6/2023 anh L2 đã gửi tin nhắn trình bày gia cảnh và thông tin cá nhân cho Phạm Tùng D. Ngày 22/6/2023 và ngày 29/6/2023, anh L2 được thông báo đã được thầy làm lễ, nhận vật phẩm tâm linh là 01 củ nghệ, một loại thuốc, 01 con rùa bằng sứ và hai hình người, yêu cầu anh L2 chuyển tiền làm lễ và tiền vật phẩm với tổng số tiền là 24.000.000 đồng.
Do đang gặp vấn đề về tình cảm với bạn trai nên chị Lưu Thị H4 khi sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Lưu Thị H4” thấy quảng cáo cáo trên trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” đăng bài làm phép, cúng lễ cầu duyên nên đã gửi tin nhắn trình bày hoàn cảnh và thông tin cá nhân cho nhóm của T5, ngày 12/7/2023 chị H4 chuyển tiền mua vật phẩm tâm linh để cúng và làm lễ số tiền 2.500.000 đồng. Thấy trên mạng xã hội đăng bài “cảnh báo thủ đoạn lừa đảo” chị biết đã mình đã bị lừa nên ngày 16/7/2023, chị nhận được hàng (vật phẩm tâm linh) chị đã không mở ra mà vứt đi luôn.
Do vợ chồng anh đang có mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, sống không hạnh phúc nên Anh Phạm Văn T5 trong khi sử dụng tài khoản Facebook “Văn Thành” của mình, thấy bài quảng cáo trên trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” có thể làm lễ cúng, làm phép, cầu duyên, bùa yêu nên anh đã gửi tin nhắn trình bày hoàn cảnh gia đình và thông tin cá nhân cho Vũ Quang H. Sau đó, H yêu cầu anh T5 chuyển tiền để mua vật phẩm tâm linh và làm lễ; ngày 12/7/2023 và ngày 20/7/2023 anh đã chuyển cho H số tiền 2.000.000 đồng.
Do mới chia tay người yêu và muốn người yêu quay lại nên chị Trần Thanh T6 khi sử dụng tài khoản Facebook của mình là “Trần Thanh T6” thấy đăng bài quảng cáo trên trang Facebook “Bản Sắc Dân Tộc Mường” về việc làm bùa yêu, bùa trói yêu, hút duyên, hút tài lộc. Chị T6 đã gửi tin nhắn trình bày hoàn cảnh, thông tin cá nhân cho H, mua vật phẩm tâm linh cúng và làm lễ để người yêu quay lại. Sau đó, chị nhận được thông báo đã làm lễ và gửi vật phẩm tâm linh gồm: 02 lọ thủy tinh đựng nước cho chị T6 và cầu chị chuyển tiền làm lễ và tiền mua vật phẩm tâm linh cho H. Ngày 12/7/2023 và ngày 15/7/2023, chị T6 đã nhận vật phẩm tâm linh trên và chuyển cho H số tiền là 2.000.000 đồng.
Tổng số tiền các bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của anh A Y Năm M3, anh Nguyễn Hữu D1, chị Đỗ Thị H3, chị Khổng Minh N, anh Lò Văn L2, anh Ma Văn T4, chị Lưu Thị H4, anh Phạm Văn T5, chị Trần Thanh T6 là 78.950.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H, Phạm Tùng D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam (từ ngày 28-7-2023, đến ngày 23-8-2023).
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Quang H 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam (từ ngày 28-7-2023, đến ngày 23-8-2023).
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tùng D 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam (từ ngày 28-7-2023, đến ngày 24-8-2023).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, quyết định hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị T2, Nguyễn Tuấn A, quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09/4/2024, các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H, Phạm Tùng D kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nằm trong khung hình phạt liền kề cho các bị cáo, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, sửa bản án sơ thẩm về mức hình phạt, giảm Lưu Văn T 01 năm 03 tháng tù, giảm Vũ Quang H 01 năm tù, giảm Vũ Tùng D2 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm. Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2023, các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H, Phạm Tùng D cùng các đồng phạm đã sử dụng mạng xã hội Facebook để tiếp cận, dụ dỗ và dùng thủ đoạn gian dối để các bị hại mua vật phẩm tâm linh, cúng, làm lễ nhằm chiếm đoạt tiền. Tổng số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt của 09 bị hại là 78.950.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Lưu Văn T là người tổ chức, tìm địa điểm, cung cấp phương tiện, phân công nhiệm vụ và quản lý tiền, trả tiền công cho các bị cáo khác, giữ vai trò chính trong vụ án. Vũ Quang H và Phạm Tùng D đều là những người giúp sức. Các bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhiều lần nên đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T xúi giục Nguyễn Tuấn A là người dưới 18 tuổi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 2 Điều 52 BLHS. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo mà cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo tự nguyện bồi thường cho các bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Riêng bị cáo T có bố đẻ là ông Lưu Văn L có chế độ do tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, có bác và chú đều là liệt sĩ. Bị cáo T là người nhận trách nhiệm bồi thường khắc phục hậu quả hết cho tất cả các bị hại thay các bị cáo khác. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, với mức án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là có phần nghiêm khắc, HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nằm trong khung hình phạt liền kề cho các bị cáo.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H và Phạm Tùng D, sửa bản án sơ thẩm, giảm giảm nhẹ một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H và Phạm Tùng D được chấp nhận một phần, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H và Phạm Tùng D, sửa bản án sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình về mức hình phạt đối với các bị cáo.
2. Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lưu Văn T 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến ngày 23/8/2023.
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Quang H 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến ngày 23/8/2023.
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Tùng D 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến ngày 24/8/2023.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo Lưu Văn T, Vũ Quang H và Phạm Tùng D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
Bản án số 48/2024/HS-PT ngày 18/07/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 48/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn T và đồng phạm
