|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:18/2023/HSST Ngày: 17/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA- TỈNH THANH HOÁ
--Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Phương.
Bà Lê Thị Oanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cao Kỳ- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 13/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
Trịnh Văn M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988; Nơi thường trú: Phố M, Phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Phố M, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Con ông: Trịnh Văn T (đã chết); Con bà: Trương Thị S; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị S1; Con: Có 03 con. Lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án,Tiền sự: Không; Bị cáo Trịnh Văn M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt tại phiên tòa
Trịnh Văn B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991; Nơi thường trú: Phố M, Phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Phố M, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Trịnh Văn T (đã chết); Con bà: Trương Thị S; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con út; Vợ: Nguyễn Thị T1; Con: Có 03 con. Lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án,Tiền sự: Không; Bị cáo Trịnh Văn B đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Đàm Thị D, sinh năm: 2006.
- Người đại diện hợp pháp của chị D: Bà Nguyễn Thị M1 (mẹ ruột chị D).
- Cùng địa chỉ: Thôn Ư, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
- + Anh Đàm Đình B1, sinh năm: 1999.
- Địa chỉ: Thôn Ư, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
- + Anh Đàm Ngọc A, sinh năm: 2001
- Địa chỉ: Thôn Ư, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
- + Chị Đàm Thị T2, sinh ngày 17/4/2005
- Địa chỉ: Thôn Ư, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
Chị D, bà M1, anh B1, anh Ngọc A, chị T2 đều vắng mặt tại phiên tòa
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1990
- Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
- + Chị Mai Thị Hồng N, sinh năm: 2004
- Địa chỉ: Phố Ư, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
- + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1994
- Địa chỉ: Số C đường N, phường Q, TP T, Tỉnh Thanh Hóa.
Anh T3, chị N, chị Hồng N đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 gờ 30 phút ngày 17/01/2023, sau khi kết thúc công việc gói nem thuê tại nhà anh Lê Thế H, sinh năm 1980, địa chỉ 0 N, phường Q, thành phố T. Chị Đàm Thị D, sinh năm 2006; Đàm Thị T2, sinh năm 2005, cùng trú tại thôn Ư, xã Q, huyện Q; anh Phạm Hoàng T4, sinh năm 2004, trú tại thôn Q, xã Q, huyện Q và chị Mai Thị Hồng N, sinh năm 2004, trú tại phố Ư, thị trấn T, huyện Q ra lấy xe đi về. Trong lúc lấy xe ra, anh Phạm Hoàng T4 làm đổ xe máy của mình đè lên xe máy của anh Lê Mai T5, sinh năm 1976, trú tại phố M, phường Q, thành phố T đang dựng bên cạnh. Lúc này anh Lê Mai T5 đang ngồi uống nước trong nhà Trịnh Văn B cùng với Trịnh Văn B (chủ nhà), Trịnh Văn M, anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1990, trú tại phố T, phường Q, thành phố T và chị Nguyễn Thị T1 (là vợ Trịnh Văn B). Nghe chị T1 nói xe của mình bị đổ vỡ phần đầu, anh Lê Mai T5 chạy ra xem, hai bên lời qua tiếng lại cãi nhau một lúc và đi đến thống nhất anh Phạm Hoàng T4 chịu trách nhiệm sửa xe cho anh Lê Mai T5, sau đó anh Phạm Hoàng T4 và anh Lê Mai T5 đi về trước.
Do lo sợ bị đánh, chị Đàm Thị D gọi điện thoại cho anh trai là Đàm Ngọc A, sinh năm 2001, trú tại thôn Ư, xã Q, huyện Q đến đón về, Đàm Ngọc A rủ anh Đàm Đình B1, sinh năm 1999, ở cùng thôn đi. Đến nơi, anh Đàm Ngọc A lời qua tiếng lại cãi nhau với Trịnh Văn M dẫn đến hai bên đánh nhau, M và Trịnh Văn B dùng tay đánh anh Đàm Ngọc A và Đàm Đình B1. Bị đánh, anh Đàm Ngọc A, Đàm Đình B1, chị Đàm Thị D và Đàm Thị T2 bỏ chạy, M và Trịnh Văn B lùa đuổi theo với mục đích để đánh (B cầm theo một cán chổi quét nhà bằng ống trúc rỗng ruột dài khoảng 60cm, đường kính to khoảng 02cm). Anh Đàm Ngọc A chạy đến trước cổng nhà trọ số C C, phường Q, thành phố T thì bị M túm được áo, do anh Ngọc A vằng ra chạy thoát nên M và B quay về. Đoạn đường Mãi và B lùa đuổi đánh nhóm anh Đàm Ngọc A là đoạn đường nằm trong khu vực đông dân cư từ số nhà B N, phường Q đến số nhà C C, phường Q, thành phố T dài 55 mét .
Hậu quả:
- Anh Đàm Đình B1 bị 01 (một) vết thương rách da chảy máu, kích thước (4 x 0,3) cm tại vùng trán, trên cung mày trái. Bờ mép nham nhở, sâu sát xương sọ. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 146/2023/TgT ngày 14/02/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Đàm Đình B1 là 3% (ba phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích
- Anh Đàm Ngọc A bị các vết thương: 01 (một) vết rách da chảy máu trên đầu bên trái, kích thước (1 x 3)cm, vết rách nham nhở; phần môi bên dưới bị rách da chảy máu và sưng phù nề, bầm tím; phần môi trên bị chảy máu và sưng phù nề; 01 (một) vết tấy đỏ không chảy máu ở cầu vai bên trái, kích thước (1 x 3) cm; 01 (một) vết xước da rớm máu ở mặt trong cổ tay trái, kích thước (1 x 3) cm; 01 (một) vết xước da rớm máu ở ống đồng chân phải, kích thước (0,5 x2) cm. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 147/2023/TgT ngày 19/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Đàm Ngọc A là 6% (Sáu phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
- Chị Đàm Thị D bị thương: 01 (một) vết trầy da, tấy đỏ, không chảy máu ở hông bên trái, kích thước (2x5) cm. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 145/2023/TgT ngày 19/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Đàm Thị D là 1% (Một phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
- Chị Đàm Thị T2 bị thương: Một vết sưng, phù nề bầm tím bên dưới đầu gối chân phải, không rách da, không chảy máu, không xác định rõ kích thước. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 148/2023/TgT ngày 19/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Đàm Thị T2 là 0% (Không phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
Về phần dân sự: Trịnh Văn B và Trịnh Văn M đã tự thỏa thuận bồi thường cho anh Ngọc A, chị D, chị T2, chị D, anh B số tiền là 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm gì về dân sự.
Anh Đàm Đình B1; Đàm Ngọc A; Đàm Thị D và Đàm Thị T2 có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích.
Ngày 18/01/2023 Chủ tịch UBND phường Q, TP T có văn bản số 34/UBND-CA đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Về vật chứng vụ án: - 01 (một) đôi dép lê màu đen đã cũ; 01 (một) mảnh gạch vỡ kích thước 10x5x10cm thu giữ tại hiện trường. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để bảo đảm việc xét xử và thi hành án theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc cán chổi quét bằng trúc rỗng ruột dài khoảng 60cm, đường kính to khoảng 02cm mà Trịnh Văn B cầm lùa theo để đánh Đàm Ngọc A và Đàm Đình B1, theo lời khai của B1 trên đường đi về nhà, B1 khai vứt bên lề đường. Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thấy.
Về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” của Trịnh Văn B và Trịnh Văn M đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Ngày 12/9/2023 Công an T6 đã có Quyết định xử phạt hành chính số 393/QĐ-XPHC đối với Trịnh Văn B và Quyết định xử phạt hành chính số 392/QĐ-XPHC đối với Trịnh Văn M.
Đối với Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thị T1 có mặt tại hiện trường khi xảy ra vụ án. Theo lời khai của các bị cáo, của anh T3, chị T1 và các tài liệu chứng cứ khác thì anh T3, chị T1 chỉ can ngăn B và M, không tham gia đánh nhau và lùa đuổi đánh nhóm Đàm Ngọc A nên không đủ căn cứ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thị T1.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đàm Ngọc A, Đàm Đình B1, Đàm Thị D và Đàm Thị T2 khai báo có người phụ nữ có hình dáng béo, mắt hít, mặc quần bò rách có hành vi không cho D và T2 lấy xe đi về và dùng điếu cày hút thuốc lào tham gia đánh nhau nhưng không trúng ai. Cơ quan điều tra đã xác minh, điều tra nhưng không xác định được nhân thân, ali lịch và cũng không xác định người phụ nữ có đặc điểm như trên nên không có căn cứ để xử lý.
* Tại bản Cáo trạng số 334/CT-VKS ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố các bị cáo M, B1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 BLHS.
* Tại phiên tòa:
- Các Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 318 ; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 ; Điều 17, điều 58, Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn M, Trịnh Văn B mỗi bị cáo mức hình phạt từ 09 tháng đến12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 đến 24 tháng.
Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép lê màu đen đã cũ; 01 (một) mảnh gạch vỡ, loại gạch lỗ màu đỏ; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận: Vào tối ngày 17/01/2023 xuất phát từ mâu thuẫn anh Phạm Hoàng T4 làm đổ xe và gây hư hỏng xe của anh Lê Mai T5 dẫn đến Trịnh Văn B và Trịnh Văn M đã có hành vi lùa đánh Đàm Ngọc A, Đàm Đình B1, Đàm Thị D, Đàm Thị T2 trên đoạn đường nằm trong khu vực đông dân cư từ số nhà B N, phường Q đến số nhà C C, phường Q, TP T dài 55 mét làm mất trật tự an toàn nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh xã hội, trật tự địa bàn.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi của các bị cáo Trịnh Văn M, Trịnh Văn B có đủ dấu hiện cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 của BLHS như đề nghị của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” cho anh Đàm Đình B1, chị Đàm Thị T2, chị Đàm Thị D, anh Đàm Ngọc A. Những người này đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích. Nên hai bị cáo không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi của Trịnh Văn B và Trịnh Văn M đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.. Ngày 12/9/2023 Công an T6 đã có QĐ xử phạt hành chính đối với Trịnh Văn M và Trịnh Văn B.
[3] Tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính táo bạo, liều lĩnh, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến các quy tắc xã hội, cản trở đến sinh hoạt bình thường của quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến anh ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm.
[4] Xét vị trí, vai trò đồng phạm của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn bởi các bị cáo đều cùng thực hiện hành vi phạm tội, không có sự bàn bạc trước. Tuy nhiên bị cáo M là người đầu tiên gây lộn và xô xát với anh Ngọc A, anh B, chị D, chị T2 và bị cáo B theo sau. Nên bị cáo M cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo B.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo B, M đã thành khẩn khai báo; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chị Đàm Thị D và gia đình chị đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo; các bị cáo có mẹ được hưởng trợ cấp xã hội vì bị thương tật. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xét thấy, Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên, con còn nhỏ, bố đã mất, mẹ bị thương tật, là lao động chính trong gia đình, bị cáo lại có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về phần bồi thường dân sự: Anh Ngọc A, anh B, chị D, chị T2, anh Ngọc A đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại và không yêu cầu gì thêm nên công nhận phần dân sự giữa bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được giải quyết xong.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 (một) đôi dép lê màu đen đã cũ; 01 (một) mảnh gạch vỡ, loại gạch lỗ màu đỏ là những vật không có giá trị nên căn cứ vào Điều 47, Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc cán chổi quét bằng trúc rỗng ruột dài khoảng 60cm, đường kính to khoảng 02cm mà Trịnh Văn B cầm lùa theo để đánh Đàm Ngọc A và Đàm Đình B1, trên đường đi Bị cáo B1 đã vứt dọc đường bị cáo không nhớ vứt ở đâu, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy nên không thu giữ được.
[7] Về án phí: Mỗi Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318 BLHS; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn M, Trịnh Văn B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Xử phạt:
Bị cáo Trịnh Văn M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo Trịnh Văn B 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Văn M, Trịnh Văn B cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởn án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự của các bị cáo với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã giải quyết xong.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép lê, màu đen đã cũ; 01 (một) mảnh gạch vỡ, loại gạch lỗ màu đỏ. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 12/2023/THA ngày 23/10/2023.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo B, M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị L |
Bản án số 18/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 18/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Đ 318 xử phạt bị cáo M 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng; Bị cáo B 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng
