|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày 17 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Niê Y Ling
Ông Phạm Hồng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy -Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện S, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/2024/TB-TA ngày 05/6/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quang T, (tên khác: H, H mào gà), sinh ngày 04/7/1993 tại Phú Yên; CCCD số [...]; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Nghề tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang T1 (sinh năm 1956) và bà Lê Thị P (sinh năm 1958- chết); Vợ: Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1996; Con: có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/02/2024 bị TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam T2, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo bị dẫn giải có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Giản Duy P1, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Hiện đang chấp hành án tại trại giam X, Đ, Phú Yên. Có mặt.
2. Ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1956; địa chỉ: Khu phố H, thị trấn H, huyện S, tinh P. Có mặt.
3. Anh Vũ Mạnh S, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố D, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2016, Nguyễn Quang T đi làm thuê ở thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và được một đối tượng (không xác định được họ tên, địa chỉ) cho 06 hạt cần sa, sau đó T đem về nhà ở khu phố H, thị trấn H, Sông H trồng, nhưng chỉ lên được 02 cây cần sa. Do quen biết với Giản Duy P1 và biết P1 có sử dụng cần sa nên T nói với P1 biết có nguồn cung cấp cần sa, T cắt cho P1 02 đoạn cần sa đưa cho P1 sử dụng. Sáng ngày 24/10/2016, P1 gọi điện choTuấn hỏi mua cần sa, T đồng ý và bảo P1 lên nhà lấy. Khoảng 11 giờ ngày 24/10/2016, P1 đến nhà ông Nguyễn Quang T1 (bố đẻ T), gặp T, P1 mua của T 01 gói cần sa với giá 300.000 đồng, đem về nhà chia thành nhiều bì nhỏ. Ngày 28/10/2016, P1 bán cho Lưu Văn K 32 bì cần sa với giá 2.000.000 đồng, số cần sa còn lại P1 cất giấu để sử dụng. K trả trước cho P1 500.000 đồng và cất giấu 32 bì cần sa vào túi xách màu xám đem đến nhà Lê Quốc K1 ở khu phố N, thị trấn H, Sông H, K lấy 02 bì cần sa sử dụng cùng với Lê Quốc K1 và Nguyễn Thành Đ thì bị Công an thị trấn H kiểm tra phát hiện, lập biên bản, thu giữ trong túi xách màu xám của K có 30 bì ni lông đựng cành, lá, hạt thực vật khô nghi là cần sa.
Ngày 14/11/2016, Công an thị trấn H tiến hành thu giữ tại nhà Nguyễn Quang T cành, lá, hạt thực vật khô nghi là cần sa.
Kết luận giám định số 328/GĐ-PC45 ngày 27/12/2016 của Phòng K4 Công an tỉnh P kết luận: Cành, lá, hạt thực vật khô trong 30 bì ni lông ký hiệu từ A1 đến A30 do Cơ quan CSĐT Công an huyện S ghi thu ngày 28/10/2016 có tổng trọng lượng 51,2g là cần sa.
Kết luận giám định số 326/GĐ-PC45 ngày 16/12/2016 của Phòng K4 Công an tỉnh P kết luận: Cành, lá, hạt thực vật khô do Cơ quan CSĐT Công an huyện S ghi thu ngày 14/11/2016 có trọng lượng 7,1 g là cần sa.
Năm 2023, các đối tượng Giản D, Lưu Văn K, Lê Quốc K1 đã bị xét xử, riêng Nguyễn Quang T đi khỏi địa phương nên bị truy nã và tách vụ án. Ngày 02/9/2023 Nguyễn Quang T bị Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc bắt tạm giam về hành vi “cướp tài sản” và đã bị Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh phúc xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản.
Hiện, Nguyễn Quang T đang chấp hành án tại trại giam T2, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Vật chứng: 17,4gam cần sa xé nhỏ; 6,3 gam cần sa; 4,1 gam cần sa; 45,9 gam cần sa còn lại sau giám định, tất cả đã tịch thu tiêu huỷ theo bản án số 07/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Hinh.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS1999, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 đối với bị cáo, xử phạt Nguyễn Quang T 02 năm đến 02 năm 06 tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng Điều 56 BLHS 2015, tổng hợp hình phạt 04 năm tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/9/2023; Về vật chứng: đã tịch thu tiêu huỷ theo bản án số 07/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Hinh nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung lag hình phạt tiền đối với bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về quyết định truy tố, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan và các tài liệu chứng cứ thu thập được, đủ cơ sở xác định: Ngày 24/10/2016, tại khu phố H, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Quang T đã có hành vi bán cho Giản Duy P2 01 túi cần sa. Hành vi của T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với hành vi trồng cần sa của Nguyễn Quang T không đủ yếu tố cấu thành tội “Trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý”;
hành vi cất giữ 7,1 g cần sa của Nguyễn Quang T ngày 14/11/2016 là nhằm mục đích sử dụng nên theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.6, mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 21/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma tuý của Bộ luật hình sự năm1999”, không phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T về các tội này là có căn cứ.
Đối với Giản Duy P2, Lưu Quốc K2, Lê Văn K3 có hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đã bị xét xử, thi hành án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Nguyễn Quang T1 là chủ nhà (bố đẻ T) nhưng không biết việc T mua bán cần sa trong nhà mình, nên cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông T1 là có căn cứ.
Đối với Vũ Mạnh S, có hành vi mua cần sa về chỉ sử dụng một mình nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu: Bị Công an huyện S truy nã; đã bị TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử và đang chấp hành hình phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 29/02/2024 và Quyết định thi hành án phạt tù số 142/2024/QĐ-CA ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối lỗi, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý độc quyền các chất ma túy và hướng thần của nhà nước. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã bán cho người khác nhằm thu lợi, vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh là có cơ sở.
[5] Về xử lý vật chứng: 17,4gam cần sa xé nhỏ; 6,3 gam cần sa; 4,1 gam cần sa; 45,9 gam cần sa còn lại sau giám định, tất cả đã tịch thu tiêu huỷ theo bản án số 07/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Hinh, nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194 BLHS 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 BLHS 2015 đối với bị cáo, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Quang T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo Nguyễn Quang T chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/9/2023.
* Về xử lý vật chứng: đã tịch thu tiêu huỷ theo bản án số 07/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Toà án nhân dân huyện Sông Hinh.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND h. Sông Hinh; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Công an h. Sông Hinh; - Bị cáo; NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ, án văn. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Đông |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang T bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
