Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/5/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng.

Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Phạm Thị Thanh

2/ Bà Nguyễn Thị Hải Yến

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tháp– Kiểm sát viên.

Ngày 17/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 182/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 07/2024/QÐST ngày 02/5/2024; Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thúy H, sinh năm 2001; Cư trú: Thôn Tân Lương, xã Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội
  2. Bị đơn: Anh Tạ Văn C, sinh năm 2000; cư trú tại Thôn T, xã H, huyện S, Hà Nội;

Có mặt: Chị H

Vắng mặt: Anh C

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2024, các lời khai bổ sung, chị Đỗ Thị Thúy H - nguyên đơn trình bày:

Về tình cảm: Chị với anh Tạ Văn C kết hôn ngày 19/12/2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống với gia đình anh C tại thôn T, xã H, huyện S, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm hay xảy ra cãi nhau. Gia đình hai bên cũng đã động viên hoà giải nhưng không thay đổi và sống ly thân từ tháng 2/2024 cho đến nay. Nay quan điểm của chị xác định tình cảm không còn chị xin ly hôn anh Tạ Văn C.

  • - Về con chung: Không có
  • - Về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đật hợp lệ cho anh C đến Toà làm việc, tham gia hoà giải nhưng anh C không đến Toà án, không cung cấp văn bản ý kiến của mình về việc chị H1 xin ly hôn nên Toà án không ghi được ý kiến của anh C.

Tại phiên tòa:

* Chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn; Về con chung: Vợ chồng không có con chung; Về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay đã chấp hành tốt pháp luật không phải nhắc nhở, kiến nghị gì. Đối với bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cần kiến nghị nhắc nhở.

- Về nội dung vụ án:

  • + Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
  • + Về con chung: Không có
  • + Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  • + Về án phí: Chị H phải chịu cả

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật:

Chị Đỗ Thị Thúy H kết hôn với anh Tạ Văn C ngày 19/12/2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, S, Hà Nội. Anh C hiện cư trú tại thôn T, xã H, S, Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đến phiên tòa cho bị đơn là anh C, nhưng anh C vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết vụ án và không thực hiện thông báo giao nộp chứng cứ của Tòa án. Như vậy, anh C đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn tiến hành xét xử vắng mặt anh C là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Đỗ Thị Thúy H và anh Tạ Văn C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã T là hôn nhân hợp pháp. Nay chị H xin ly hôn, anh C không có ý kiến gì về việc chị H1 xin ly hôn.

Căn cứ tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương, gia đình chị H, thể hiện: Anh chị có nhiều mâu thuẫn, đã ly thân. Anh C không đến Toà án làm việc không tham gia hoà giải. Tại phiên toà chị H vẫn kiên quyết xin ly hôn anh C. Xét thấy, anh chị đã sống ly thân từ tháng 2/2024 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Gia đình hai bên cũng đã hòa giải vợ chồng nhưng anh chị không thể hàn gắn được mà vẫn mỗi người ở một nơi. Từ phân tích trên cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã quá căng thẳng và trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H xin ly hôn với anh C là có căn cứ và phù hợp qui định của pháp luật nên được chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Anh Chị không có con chung nên không xem xét giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Thúy H đối với anh Tạ Văn C. Chị Đỗ Thị Thúy H được ly hôn anh Tạ Văn C.
  2. Về con chung: Không có
  3. Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai số 0022416 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Án xử công khai sơ thẩm. Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhân:

  • - Các đương sự;
  • - VKS Sóc Sơn;
  • - THA Sóc Sơn;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - UBND Xã Thanh Xuân;
  • - Lưu hồ sơ;

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C các vấn đề khác có liên quan
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger