Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 18/2024/DS-ST

Ngày: 17-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công;
  2. Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 374/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thanh T, sinh năm 1976; địa chỉ: Số I ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Minh H, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: D đường A, khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 10/10/2023), vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1984; địa chỉ: C khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1988; địa chỉ: 1 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 15/5/2022, giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo thoả thuận, bị đơn chuyển nhượng cho nguyên đơn một phần diện tích đất 139,6m² nằm trong diện tích đất 640m² thuộc thửa đất số 986 (thửa gốc số 177), tờ bản đồ số 103 (tờ bản đồ gốc A3) toạ lạc tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Nguyễn Văn N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U723169, số vào số 01872/QSDĐ/TG ngày 01/8/2002. Giá thoả thuận chuyển nhượng là 4.200.000.000 đồng và nguyên đơn đặt cọc cho bị đơn số tiền 3.000.000.000 đồng, số tiền còn lại nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn khi bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bị đơn ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.

Thửa đất nguyên đơn và bị đơn thoả thuận chuyển nhượng theo hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 là di sản của ông Nguyễn Văn N (cha của bị đơn) để lại. Bị đơn cho nguyên đơn biết là các đồng thừa kế hàng thứ nhất của ông N thống nhất chia cho bị đơn phần diện tích đất 139,6m² nằm trong diện tích đất 640m² thuộc thửa đất số 177, tờ bản đồ số A3 toạ lạc tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Ngay sau ký hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022, nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn số tiền 3.000.000.000 đồng theo thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên đến nay, nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ và yêu cầu bị đơn thực hiện các thủ tục để phân chia di sản của ông N để lại nhằm để thực hiện thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụn đất theo Hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn nhưng bị đơn cố tình trốn tránh, không thực hiện.

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Trịnh Thanh T yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 được ký kết giữa bà Trịnh Thanh T và ông Nguyễn Ngọc T1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 25/12/2023, nguyên đơn bà T thay đổi yêu cầu khởi kiện. Theo đơn, bà T yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 được ký kết giữa nguyên đơn bà Trịnh Thị T2 và bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1; buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 phải có trách nhiệm trả lại số tiền đặt cọc 3.000.000.000 đồng đã nhận cho bà Trịnh Thanh T.

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh yêu cầu khởi kiện: Hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022

Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập ông Nguyễn Ngọc T1 đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên ông T1 đều vắng mặt không rõ lý do.

Theo bản tự khai, người làm chứng ông Trần Thanh L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn bà Trịnh Thanh T và có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và người làm chứng chấp hành đúng pháp luật tố tụng; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể: Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 giữa ông Nguyễn Văn T3 và bà Trịnh Thanh T vô hiệu; buộc ông Nguyễn Ngọc T1 có trách nhiệm trả cho bà Trịnh Thanh T số tiền đặt cọc 3.000.000.000 đồng đã nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết qủa tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trịnh Thanh T khởi kiện tranh chấp đối với ông Nguyễn Ngọc T1 liên quan đến Hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 được ký kết giữa ông T1 và bà T. Theo hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022, bà T và ông T1 thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 177, tờ bản đồ số A3 toạ lạc tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 cư trú tại đia chỉ số C khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 328 Bộ luật Dân sự.

[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người làm chứng ông L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

[1.3] Trong quá trình giải quyết, nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 vô hiệu và yêu cầu bị đơn trả lại số tiền cọc đã nhận nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn N (người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nguyên đơn và bị đơn thoả thuận chuyển nhượng theo hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022) cũng như các thành viên trong hộ của ông N tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn N vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo Công văn số 572/CNTA-ĐK&CGCN ngày 29/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T thể hiện thửa đất số 177, tờ bản đồ số 103 tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Nguyễn Văn N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 723169, số vào sổ cấp GCN: 01872 QSDĐ/TG ngày 01/8/2002. Theo hộ khẩu có trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N đối với thửa đất nêu trên thì hộ ông N có các thành viên gồm ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị Ngọc Á, ông Nguyễn Ngọc C, ông Nguyễn Ngọc T4 và ông Nguyễn Ngọc T1.

Theo hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022, bị đơn xác định phần diện tích đất bị đơn thoả thuận chuyển nhượng cho nguyên đơn là do bị đơn được chia di sản thừa kế của cha mẹ bị đơn để lại. Tuy nhiên khi nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng đặt cọc thì không có sự đồng ý của những thành viên trong hộ và những người thuộc hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn N. Mặt khác, các bên thoả thuận chuyển nhượng phần diện tích đất 139,6m² nằm trong diện tích đất 640m² thuộc thửa đất số 986 (thửa gốc số 177), tờ bản đồ số 103 (tờ bản đồ gốc A3) toạ lạc tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhưng theo Công văn số 4152/CNTA-ĐK&CGCN ngày 22/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T thì hiện nay chưa có cá nhân nào đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 986 (thửa gốc số 177), tờ bản đồ số 103 (tờ bản đồ gốc A3) toạ lạc tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Trịnh Thanh T bị vô hiệu kể từ thời điểm ký kết do vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật dân sự 2015.

[2.2] Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015, khi giao dịch vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Theo hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022, bị đơn đã ký xác nhận đã nhận đủ số tiền 3.000.000.000 đồng đặt cọc của nguyên đơn. Mặt khác, tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, nguyên đơn biết phần đất bị đơn chuyển nhượng cho nguyên đơn được cấp cho hộ ông Nguyễn Văn N nhưng nguyên đơn và bị đơn vẫn ký hợp đồng đặt cọc. Do đó, nguyên đơn và bị đơn đều có lỗi ngang nhau trong việc dẫn đến hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 được ký kết giữa nguyên đơn bà Trịnh Thanh T và bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 vô hiệu; đồng thời, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thanh T; tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 giữa ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Trịnh Thanh T vô hiệu; buộc ông Nguyễn Ngọc T1 có trách nhiệm trả cho bà Trịnh Thanh T số tiền 3.000.000.000 đồng.

[2.5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.

[ 2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 229, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 122, 123, 131 và Điều 328 của Bộ luật dân sự 2015
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thanh T với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Trịnh Thanh T vô hiệu.

- Buộc ông Nguyễn Ngọc T1 có trách nhiệm trả cho bà Trịnh Thanh T số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí sơ thẩm:

Ông Nguyễn Ngọc T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 92.300.000 đồng.

Hoàn trả lại cho bà Trịnh Thanh T số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0001799 ngày 06/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc K

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 18/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trịnh thanh T- nguyễn ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger