TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 18/2024/HS-ST | Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Thanh Nguyên
Bà Trần Thị Ngọc Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Việt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh V, sinh năm 1999, tại huyện T, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Phượng H; sống chung như vợ chồng với Thị Hồng G, có 02 người con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ 01; nhân thân: Ngày 22-02-2024, bị Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đang chấp hành án tại Trại giam K, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-7-2023 đến nay, bị cáo có đơn xin vắng mặt.
2. Thị Hồng G, sinh ngày 17-4-2004, tại huyện V, tỉnh Kiên Giang.
Nơi cư trú: Ấp X, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; chỉ biết cha tên M không xác định rõ ở đâu, mẹ tên Thị T1; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thanh V, có 02 người con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ 02; nhân thân: Ngày 22-02-2024, bị Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14-01-2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, bị cáo có mặt.
Bị hại: Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Mỹ H2, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Trần Quốc D, sinh năm 2002, vắng mặt;
- Anh Trần Trọng T2, sinh năm 2006, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 11-7-2023, Nguyễn Thanh V điều khiển xe mô tô biển số 67M1-440.34 chở Thị Hồng G cùng 02 con nhỏ đi tìm tài sản lấy trộm. Khi chạy đến khu vực ấp T, xã T, huyện T, V thấy xe mô tô biển số 67N1 - 307.58 của ông Trần Thanh H1 đang dựng cặp bờ kênh có sẵn chìa khóa trên xe, không người trông giữ. V kêu G điều khiển xe biển số 67M1-440.34 đi trước cảnh giới và giữ con, còn V mở khóa lấy trộm xe mô tô biển số 67N1 - 307.58 của ông H1 chạy về nhà thuộc ấp T, xã M, huyện T cất giấu. Sau đó, V làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang biển số 67M1-800.69, rồi lắp vào xe 67N1-307.58 đem cầm tại tiệm cầm đồ “Ba Hải” (do bà H2 làm chủ) tại khóm T, thị trấn Ó, huyện T với giá 10.000.000 đồng. Sau khi phát hiện mất xe, ông H1 đến Công an xã T trình báo sự việc.
Ngày 01-8-2023, V và G bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện H, tỉnh Kiên Giang khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” trong vụ án khác. Quá trình điều tra, V và G khai nhận thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô biển số 67N1-307.58 của ông H1.
Ngày 08-01-2024, V và G bị khởi tố để điều tra.
* Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 xe mô tô biển số 67N1-307.58, hiệu HONDA, loại Future (đã trả cho bị hại H1).
* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐG.TTHS ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô biển số 67N1-307.58, hiệu HONDA, loại Futur, trị giá 14.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo V, G khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSTT-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh V, Thị Hồng G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh V, Thị Hồng G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét đến các tình tiết như: Các bị cáo thành khẩn khai báo, đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo G là người dân tộc Khmer nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 22-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thị Hồng G từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 22-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, làm thuê sinh sống, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thanh H1 đã nhận lại xe mô tô, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Mỹ H2 nhận cầm xe mô tô biển số 67M1-80069 (biển số thật 67N1-30758), giấy CNĐK tên Lê Thị Phượng H từ bị cáo giá 10.000.000 đồng, khi biết xe là tài sản lấy trộm bà H2 đã nộp lại xe, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Việc bị cáo V có hành vi làm, sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cùng biển số giả, đã chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra – Công an huyện T thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền nên không xem xét.
Đối với xe mô tô biển số 67M1-440.34 (biển số giả) mà các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, xe này biển số thật là 67H1-243.14 đã được xử lý theo bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 22-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nên không xem xét giải quyết.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng trong vụ án, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ, bị cáo V có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290; Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Vì cần tiền nên các bị cáo đã lấy trộm xe mô tô của ông H1 cầm cho bà H2 lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Xét thấy, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà các bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, đồng thời cũng phù hợp với Kết luận định giá tài sản số 48 ngày 26-10-2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra đã thu thập đúng pháp luật. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 11-7-2023, tại bờ kênh thuộc ấp T, xã T, huyện T các bị cáo đã có hành vi lấy trộm xe mô tô biển số 67N1 - 307.58 của ông Trần Thanh H1, trị giá tài sản chiếm đoạt là 14.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “trộm cắp tài sản” nên Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, tạo nên tâm lý lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân.
Các bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng lao động để nuôi sống bản thân, nhưng vì bản tính tham lam, tư lợi, lười lao động lại muốn có tiền phục vụ cho nhu cầu bản thân nên các bị cáo đã lén lút lấy trộm xe mô tô của ông H1, bị cáo V là người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo G giúp sức cảnh giới. Vì vậy, cần phải áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tang nặng, giảm nhẹ
Về tình tiết giảm nhẹ: Nhận thấy, các bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo G là người dân tộc Khmer nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, làm thuê sinh sống, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo V có hành vi làm, sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cùng biển số giả, đã chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra – Công an huyện T thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền nên không xem xét.
Đối với xe mô tô biển số 67M1-440.34 (biển số giả) mà các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, xe này biển số thật là 67H1-243.14 đã được xử lý theo bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 22-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nên không xem xét giải quyết.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thanh H1 đã nhận lại xe mô tô, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Mỹ H2 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh V, Thị Hồng G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 22-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 22-7-2023.
Xử phạt bị cáo Thị Hồng G 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 22-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 14-01-2024.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Thanh V và Thị Hồng G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghì đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Hùng |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
