Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỐNG NHẤT

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-4-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thắm

Bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bích V, sinh năm 1985
  • - Bị đơn: Anh Chìu Lình K, sinh năm 1988
  • Cùng địa chỉ: Tổ 6, ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • (Chị V và anh K văng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Lê Thị Bích V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh K quen biết, yêu thương nhau khoảng 01 năm và tự nguyện kết hôn, được UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/02/2012. Đây là hôn nhân lần thứ nhất của của chị V.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng sinh sống tại khu phố T, thị trấn D, đến năm 2015 thì xây nhà riêng sống tại địa chỉ ấp N, xã B, huyện T. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, đấm ấm đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Anh K không lo lắng, quan tâm đến gia đình và không lo làm ăn mà thường gặp gỡ bạn bè ăn chơi. Mặt khác anh K còn ham chơi cờ bạc ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.

Từ năm 2020 thì anh K thường đi làm và đi chơi với bạn bè cứ khoảng 02 tuần mới về nhà thăm con rồi lại tiếp đi chơi. Kể từ đó vợ chồng không nói chuyện với nhau, việc ai nấy làm.

Tháng 5/2023 chị V đã đến Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh K nhưng vì mong muốn vợ chồng đoàn tụ nên chị V đã rút đơn khởi kiện. Sau khi rút đơn khởi kiện anh K vẫn không thay đổi tính tình, vợ chồng vẫn không nói chuyện với nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng.

Nay chị V xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị V yêu cầu ly hôn với anh Chìu Lình K.

  • - Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Chìu Lê Chí B, sinh ngày 16/01/2013 và cháu Chìu Lê Đức M, sinh ngày 26/6/2018.
  • Khi ly hôn chị V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung. Tạm thời chị V không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay nghề nghiệp của chị V làm công nhân, thu nhập trung bình mỗi tháng là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) đủ khả năng nuôi dưỡng hai con.
  • - Về tài sản: Chị Lê Thị Bích V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn - anh Chìu Lình K vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lê Thị Bích V và anh Chìu Lình K được ly hôn.
  • + Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung là cháu Chìu Lê Chí B, sinh ngày 16/01/2013 và cháu Chìu Lê Đức M, sinh ngày 26/6/2018 cho chị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
  • + Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bích V và anh Chìu Lình K tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/02/2012. Căn cứ các Điều 9, 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân của chị V và anh K là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị và anh K đã xảy ra mâu thuẫn, theo chị V trình bày thì mâu thuẫn vợ chồng là do anh K không lo lắng, quan tâm đến vợ con mà thường gặp gỡ bạn bè ăn chơi. Tháng 3/2023 chị V đã đến Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất nộp đơn khởi kiện nhưng vì mong muốn vợ chồng đoàn tụ nên chị V rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên anh K vẫn không thay đổi tính tình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ gia đình nhưng anh K đều không đến thể hiện việc anh K không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị V.

Từ các phân tích trên, xét mâu thuẫn giữa chị V và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị V và anh K có hai con chung là cháu Chìu Lê Chí B, sinh ngày 16/01/2013 và cháu Chìu Lê Đức M, sinh ngày 26/6/2018. Hai con chung do chị V trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời con chung cũng có nguyện vọng được sống chung với chị V.

Xét việc nuôi con chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình vợ chồng chị V và anh K xảy ra mâu thuẫn, các con đều do chị V nuôi dưỡng, hiện con chung có nguyện vọng sống cùng với mẹ. Do vậy, cần tiếp tục giao hai con chung cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhằm đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chị V không yêu cầu nên tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị V xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh K vắng mặt nên không có ý kiến trình bày; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.

[3] Về án phí: Chị Lê Thị Bích V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng các Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Lê Thị Bích V.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Bích V và anh Chìu Lình K được ly hôn.
  2. Về con chung:
    1. Giao các cháu Chìu Lê Chí B, sinh ngày 16/01/2013 và cháu Chìu Lê Đức M, sinh ngày 26/6/2018 cho chị Lê Thị Bích V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
    2. Anh Chìu Lình K được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
    3. Tạm thời anh Chìu Lình K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị Bích V không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Bích V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0007912 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Lê Thị Bích V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Thống Nhất;
  • - CC THADS huyện Thống Nhất;
  • - UBND thị trấn xã Hưng Lộc, huyện
  • Thống Nhất;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Châu Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị V yêu cầu ly hôn với anh K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger