TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH H TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Th H, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bé
Ông Võ Thành Trung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Kim Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thành S, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Ấp Thạnh Lập, xã Th P, Huyện Th H, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Nguyễn Thành V, sinh năm 1959( Sống) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967 (Sống); Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/8/2023 đến ngày 31/8/2023 sau đó chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an Huyện Th H từ ngày 31/8/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Trần Bình Tr, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Ấp Cả Cỏ, xã Th P, Huyện Th H, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Trần Văn L, sinh năm 1975( Sống) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1979 (Sống); vợ là Dương Thị Thúy Hoa, sinh năm 2003 và có 01 con nhỏ têm Trần Tr Nhân, sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/8/2023 đến ngày 31/8/2023 sau đó chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an Huyện Th H từ ngày 31/8/2023 cho đến nay.
Người bào chữa: Luật sư Hà Đình Điền thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp Cả Cỏ, xã Th P, Huyện Th H, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Người làm chứng: Ông Huỳnh Quốc L, sinh năm 2004; Địa chỉ: Ấp Vàm Lớn, xã Thuận Nghĩa Hòa, Huyện Th H, tỉnh Long An. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/8/2023, bị cáo Trần Bình Tr sử dụng xe moto hai bánh nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 62F1-227.34 chở theo đàn ORGAN đi đám ở Tiền Giang. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Thành S điện thoại qua Zalo hỏi “ Tr có đi làm không”, nếu có thì ghé thành phố Tân An mua ma túy, Tr trả lời “đang đi làm ở Tiền Giang nhưng không có tiền” nếu muốn mua ma túy thì chuyển tiền qua cho Tr, S đồng ý và nói khi nào về đến thành phố Tân An thì cho S biết. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Tr điều khiển xe moto đến thành phố Tân An, tỉnh Long An rồi điện thoại kêu S chuyển tiền qua Tài khoản Ngân hàng của Tr với số tiền là 1.300.000đ để hùn mua ma túy chia nhau sử dụng, trong đó phần của S là 700.000₫ và cho Tr mượn 600.000đ, rồi S cho Tr số điện thoại của người tên Tiến để Tr liên hệ mua ma túy. Tr gọi điện thoại cho người tên Tiến (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy với số tiền là 1.300.000đ thì Tiến kêu Tr qua Bờ kè Phường 5 thành phố Tân An, sau có một thanh niên đến gặp và đưa cho Tr một vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 túi nylon được hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, 01 đoạn ống hút màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy. Tr lấy vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong chứa ma túy bỏ vào ngăn túi nhỏ bên ngoài áo đàn ORGAN và đeo trên lưng, rồi chạy xe về Huyện Th H. Khi đến khu vực vòng xoay đường Lê Duẫn, thuộc khu phố 3, thị trấn Thạnh Hóa, Huyện Th H, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an huyện bắt người phạm tội quả tang. Qua điều tra, bị cáo S và Tr thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Bản kết luận giám định số 883/KL-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Long An kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (Một) gói nylon hàn kín và 01 (Một) đoạn ống nhựa màu tím hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy tổng khối lượng: 2.3560gram, loại Methamphetamine. Hoàn lại mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 1.7660gram, được niêm phong cùng vỏ bao đựng mẫu giám định số 883.
Vật chứng thu giữ: 01 (Một) túi nhựa trong suốt hàn kín bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 (Một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chất rắng dạng tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 01 (một) xe moto biển kiểm soát 62F1-227.34, đã qua sử dụng; 01 (Một) áo đàn ORGAN màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme C55 màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Th H đã trả lại cho ông Trần Văn L 01 (một) xe moto hiệu YAMAHA biển kiểm soát 62F1-227.34.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSTH ngày 30/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Th H, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Thành S và Trần Bình Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L là chủ sở hữu chiếc xe moto hiệu YAMAHA kiểm soát 62F1-227.34 đã nhận lại được xe từ cơ quan Cảnh sát điều tra nên không có ý kiến trình bày gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Th H, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 20 tháng đến 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Th H, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo Trần Bình Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy các vật chứng: 01 (Một) túi nhựa trong suốt hàn kín bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 (Một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chất rắng dạng tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 (Một) áo đàn ORGAN màu đen, đã qua sử dụng. Trả lạI cho bị cáo S 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme C55 màu vàng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Tr 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng.
Luật sư Hà Đình Điền – Luật sư bào chữa của bị cáo Trần Bình Tr trình ý kiến bào chữa như sau:
Luật sư thống nhất với bảng luận tội mà Vị đại diện Viện kiểm sát vừa công bố, bị cáo Tr phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo Tr có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo Tr có thân nhân là người có công với cách mạng, bị cáo là lao động chính nuôi con nhỏ sinh năm 2018 nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về chăm sóc vợ con.
Bị cáo Tr không có bổ sung thêm đối với lời bào chữa của Luật sư.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã nêu. Các bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo S xin trả lại S 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme C55 màu vàng, đã qua sử dụng; bị cáo Tr xin trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng. Bị cáo Tr không yêu cầu nhận lại 01 (Một) áo đàn ORGAN màu đen, đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L cho bị cáo Tr mượn xe moto hiệu YAMAHA kiểm soát 62F1-227.34 để bị cáo Tr đi làm, ông không biết bị cáo Tr dùng xe để đi Tân An mua ma túy nên Cơ quan công an trả lại cho ông Lành xe này là có căn cứ.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Tr thống nhất bản luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát nêu lên tình tiết giảm nhẹ hình phạt là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo Tr có thân nhân là người có công với cách mạng, bị cáo là lao động chính nuôi con nhỏ sinh năm 2018 nên có căn cứ để cân nhắc khi lượng hình cho bị cáo Tr.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Xét hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành S và Trần Bình Tr: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo S và bị cáo Tr thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Bị cáo S và bị cáo Tr thừa nhận tang vật gồm 01 túi nylon được hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, 01 đoạn ống hút màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy là bị cáo S có nhờ và chuyển cho bị cáo Tr 1.300.000₫ (trong đó của bị cáo là 700.000₫ và bị cáo Tr mượn 600.000đ) để Tr mua ma túy của một người tên Tiến ( không rõ họ tên và địa chỉ) tại thành phố Tân An, tỉnh Long An để về cùng bị cáo Tr sử dụng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An. Theo kết luận giám định số 883/KL-KTHS ngày 28/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (Một) gói nylon hàn kín và 01 (Một) đoạn ống nhựa màu tím hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy tổng khối lượng: 2.3560gram, loại Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo S và bị cáo Tr là đồng phạm giản đơn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Bị cáo S và bị cáo Tr cất giữ ma túy để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép. Viện kiểm sát nhân dân Huyện Th H truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng pháp luật.
- Xét thấy, khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự. Do đó, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo S, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Tr, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có người thân có công với cách mạng, vợ bị cáo còn trẻ, không có việc làm, đang nuôi con nhỏ sinh năm 2018, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy các vật chứng: 01 (Một) túi nhựa trong suốt hàn kín bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 (Một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chất rắng dạng tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 (Một) áo đàn ORGAN màu đen, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo S 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme C55 màu vàng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Tr 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- 1.Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- 2. Về hình phạt: Căn cứ vào Điều 17, điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành S 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn thi hành án được tính từ ngày 31/8/2023.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thành S 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/4/2024).
- 1.Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trần Bình Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- 2. Về hình phạt: Căn cứ vào Điều 17, điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Bình Tr 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn thi hành án được tính từ ngày 31/8/2023.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Bình Tr 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/4/2024).
- 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng: 01 (Một) túi nhựa trong suốt hàn kín bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 (Một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chất rắng dạng tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 (Một) áo đàn ORGAN màu đen, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo S 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme C55 màu vàng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Tr 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/02/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Th H).
- 4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.
Buộc bị cáo Trần Bình Tr phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.
- 5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo trong phạm vi có liên quan.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hương |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH H, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH H, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn thành sang "tàng trữ trái phép chất ma túy"
