|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/HSST Ngày: 16/05/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Huy Hoàng và ông Mai Văn Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Dương Phước An- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Văn D, tên gọi khác: Xị; sinh ngày 13/5/2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi thường trú: Tổ G, khu vực 5A, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ở hiện tại: sống lang thang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Võ Văn T (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H; vợ con: Chưa có.
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ ở với gia đình tại học hết lớp 05/12 thì nghỉ học, sau đó học nghề thợ may phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội. Ngày 14/11/2023, có hành vi trộm cắp tài sản tại phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 20/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết Định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt của Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế vào ngày 14/5/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
1. Bà Hoàng Thị Kiều N, sinh năm 1982; địa chỉ: TDP G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở: Chùa T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
2. Cháu Hoàng Hữu Đ, sinh ngày 16/3/2008; địa chỉ: TDP G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Người đại diện hợp pháp của cháu Hoàng Hữu Đ: Bà Lại Thị M, sinh năm 1983; địa chỉ: TDP G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/11/2023, Công an thành phố H bắt quả tang Võ Văn D đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà để xe chung cư D, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 20/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Văn D. Quá trình điều tra, D khai nhận vào rạng sáng ngày 14/11/2023, trước khi trộm cắp tại phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì D đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 điện thoại di động gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu trắng tại một gia đình có đám tang ở địa bàn phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Võ Văn D khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 13/11/2023, D gặp đối tượng tên L, sống tại khu chung cư P, phường P, thành phố H và được L rủ đi trộm cắp tài sản thì D đồng ý. Sau khi thống nhất, D đi bộ đến khu chung cư phường P để đợi L. Khoảng 00 giờ 30 ngày 14/11/2023, L chạy xe mô tô Wave Alpha màu đen, không gắn biển số đến chở D tại điểm hẹn để đi trộm cắp tài sản. L điều khiển xe chở D lưu thông trên tuyến đường Q từ thành phố H ra hướng thị xã H tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Vào khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, khi L chở D đến đoạn đường thuộc phường H, thị xã H, thì thấy nhà bà Lại Thị M đang tổ chức đám tang nên dừng xe bên ngoài đường, cách nhà có đám tang khoảng 15-20m. Khi thấy người trong nhà đám tang đều ngủ nên D đi bộ một mình vào ngôi nhà bên phải nhà tổ chức đám tang, D thấy có người đang ngủ trên ghế gỗ ở trong nhà nên D sợ không vào mà đi ra lại địa điểm mà L đang đứng cảnh giới. Lúc này, Lưu để D đứng ngoài cảnh giới, còn L đi vào khu vực nhà tổ chức đám tang. Một lúc sau L cầm 02 điện thoại di động vừa trộm được, gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen của anh Hoàng Hữu Đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu trắng của bà Hoàng Thị Kiều N đem ra ngoài và đưa cho D cất giữ.
Sau đó, L điều khiển xe mô tô chở D đi vào hướng khu chung cư H, thành phố H để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Trong lúc trộm cắp tài sản tại chung cư phường H thì Võ Văn D bị Công an phường H bắt quả tang và thu giữ trên người D toàn bộ tang vật mà D đã trộm cắp tại phường H, thị xã H.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu trắng đã qua sử dụng.
Xử lý vật chứng: Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả cho chủ sở hữu là anh Hoàng Hữu Đ 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu vivo màu xanh đã qua sử dụng và trả cho bà Hoàng Thị Kiều N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu trắng đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận định giá số: 56/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H kết luận, giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 14/11/2023 như sau: 01 điện thoại di động vivo màu xanh đen đã qua sử dụng có giá trị là 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone XR màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 5.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản qua định giá là 6.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Võ Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Võ Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn D từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tại phiên tòa, bà Hoàng Thị Kiều N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bà N không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà N theo thủ tục chung.
- [2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 01 giờ 30 ngày 14/11/2023, tại nhà của bà Lại Thị M tại tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Võ Văn D có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh đen của cháu Hoàng Hữu Đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu trắng của bà Hoàng Thị Kiều N, có tổng giá trị là 6.500.0000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Võ Văn D là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo đã một lần bị kết án, tuy nhiên hành vi phạm tội lần này của bị cáo được thực hiện trước hành vi đã bị kết án, nên bị cáo được hưởng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, theo quy định tại các điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo nhằm mục đích hưởng lợi bất chính, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong tình hình tội phạm này càng gia tăng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chung tại địa bàn thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn, do đó cần giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân tốt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
- [7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu trắng đã qua sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại là đúng pháp luật, tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8] Đối với hành vi của Huỳnh Văn L1 theo lời khai của Võ Văn D tại hồ sơ và qua nhận dạng, D xác nhận L1 là người đã chở D cùng trộm cắp tài sản vào sáng ngày 14/11/2023. Tuy nhiên qua đối chất, Lưu không thừa nhận việc có quen biết D cũng như có hành vi đồng phạm với D khi cùng tham gia trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã tiến hành mọi biện pháp điều tra đối với Huỳnh Văn L1, tuy nhiên không đủ căn cứ kết luận Huỳnh Văn L1 là đồng phạm với D trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra vào ngày 14/11/2023 tại địa chỉ tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó chưa có căn cứ để xử lý Huỳnh Văn L1 theo quy định của pháp luật. Cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H tiếp tục xác minh điều tra để có cơ sở xử lý L1 theo quy định.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Võ Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 18/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 18/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCTS
