TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 16 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy và ông Trần Xuân Thuận
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc Q - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/12/1959 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn C T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 07/10; Con ông Trần C và bà Phạm Thị Đ (đều đã chết); có vợ và 05 người con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/01/2024 cho đến nay, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1960
- Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1989
Địa chỉ: Thôn C T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
Địa chỉ: Thôn C T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
* Người đại diện theo pháp luật của ông Nguyễn Ngọc T: bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1964.
Địa chỉ: Thôn C T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Đăng L1, sinh năm: 1954.
Địa chỉ: Thôn C T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
2. Bà Lê Thị T1, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 20/11/2023 Trần Ngọc Q mang theo một cái rựa đi đến hàng rào trước cổng nhà của mình, nơi giáp ranh giữa vườn nhà Q và vườn nhà ông Nguyễn Ngọc L trú cùng thôn để chặt những cành cây của ông Lương v sang bên vườn mình. Trong quá trình chặt cây, ông Nguyễn Ngọc L và vợ bà Nguyễn Thị H đứng ở sân nhà chửi bới Q. Một lúc sau, ông L đi ra chỗ Q đang chặt cây thì Q nói “Mi muốn chửi thì đi về bên đất mi mà chửi”, rồi dùng tay đẩy ông L đi về. Ông L tiếp tục lao về phía Quý chửi bới, lúc này Q nhặt 01 que gỗ (cành cây cọ) vừa chặt xong đánh liên tục vào cùng đầu và người ông L. Thấy ông L bị đánh, anh Nguyễn Ngọc T (con trai ông L) chạy tới nhưng bị Q dùng que gỗ đánh liên tục vào người, T bỏ chạy và nhặt đá ném về phía Q nhưng không trúng. Q cầm rựa đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó lực lượng Công an xã T đến giải quyết, sự việc dừng lại tại đây, ông L và anh T được được đưa đi điều trị tại cơ sở y tế.
Tại Bản kết luận giám định số 06/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 17/01/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Q kết luận:
- Tổng tỷ lệ tổn thương trên cơ thể anh Nguyễn Ngọc T do các thương tích gây nên hiện tại là 03%.
- Vật gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây ra.
- Tính chất thương tích: Các thương tích không nguy hiểm cho tính mạng.
Tại Bản kết luận giám định số 07/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 17/01/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Q kết luận:
- Tổng tỷ lệ tổn thương trên cơ thể ông Nguyễn Ngọc L do các thương tích gây nên hiện tại là 04%.
- Vật gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây ra.
- Tính chất thương tích: Các thương tích không nguy hiểm cho tính mạng.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ:
- 01 cây rựa dài 71cm, trong đó cán rựa làm bằng gỗ tròn, đường kính 4,5cm, cán dài 42,7cm. Lưỡi rựa làm bằng kim loại có màu tối, dài 28,3cm, bản nơi rộng nhất là 5,5cm, đầu có móc, đã qua sử dụng.
- 01 gậy gỗ đã khô, tối màu dài 67cm, đường kính nơi lớn nhất là 4,5cm, nơi bé nhất là 2,5cm, ở một đầu gậy gỗ có nạng chia làm hai nhánh.
- 01 que dài 92cm, được niêm phong dán kín, được niêm phong bằng các chữ ký của người tham gia niêm phong, hình dấu của Công an xã T, huyện T, bên trong có: 01 bèn cây lá cọ, màu xanh còn tươi, chiều dài 92cm, hình tam giác, hai cạnh có gai nhọn, một đầu bị dập nát chia thành nhiều mảnh nhỏ và một đầu vẫn còn nguyên.
- Đối với 02 viên đá anh Nguyễn Ngọc T dùng để ném Trần Ngọc Q nhưng không trúng, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy.
Trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Ngọc L và người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Ngọc T yêu cầu ông Trần Ngọc Q bồi thường các chi phí trong quá trình điều trị vết thương số tiền 31.900.000đồng. Bị cáo Trần Ngọc Q đã nộp số tiền 1.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số 0000009 ngày 16/4/2024 để bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc L.
Bản cáo trạng số: 17/CT – VKSTH – HS ngày 04/4/2024 Trần Ngọc Q về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Trần Ngọc Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm k khoản 1 Điều 52 và Điều 36 BLHS năm 2015 xử phạt Trần Ngọc Q từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ:
- 01 gậy gỗ đã khô, tối màu dài 67cm, đường kính nơi lớn nhất là 4,5cm, nơi bé nhất là 2,5cm, ở một đầu que gỗ có nạng chia làm hai nhánh.
- 01 que dài 92cm, được niêm phong dán kín, được niêm phong bằng các chữ ký của người tham gia niêm phong, hình dấu của Công an xã T, huyện T, bên trong có: 01 bèn cây lá cọ, màu xanh còn tươi, chiều dài 92cm, hình tam giác, hai cạnh có gai nhọn, một đầu bị dập nát chia thành nhiều mảnh nhỏ và một vẫn còn nguyên.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Trần Ngọc Q: 01 cây rựa dài 71cm, trong đó cán rựa làm bằng gỗ tròn, đường kính 4,5cm, cán dài 42,7cm. Lưỡi rựa làm bằng kim loại có màu tối, dài 28,3cm, bản nơi rộng nhất là 5,5cm, đầu có móc, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Trần Ngọc Q phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Ngọc T số tiền 17.700.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá nghạch: Buộc bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 14 giờ ngày 20/11/2023 Trần Ngọc Q mang theo một cái rựa đi đến hàng rào trước cổng nhà của mình, nơi giáp ranh giữa vườn nhà Q và vườn nhà ông Nguyễn Ngọc L trú cùng thôn để chặt những cành cây của ông Lương v sang bên vườn mình. Trong quá trình chặt cây, giữa hai bên xảy ra tranh chấp ông L và vợ là bà H đứng ở sân nhà chửi bới bị cáo. Một lúc sau, ông L đi ra chỗ Q đang chặt cây thì Q dùng tay đẩy ông L đi về, ông L tiếp tục lao về phía bị cáo chửi bới, lúc này bị cáo nhặt 01 que gỗ (cành cây cọ) vừa chặt xong đánh liên tục vào cùng đầu và người ông L. Thấy ông L bị đánh, anh Nguyễn Ngọc T (con trai ông L) chạy tới nhưng bị Q dùng que gỗ đánh liên tục vào người, T bỏ chạy và nhặt đá ném về phía Q nhưng không trúng, bị cáo cầm rựa đuổi theo nhưng không kịp. Ông L và anh T được đưa đi điều trị tại cơ sở y tế. Hậu quả ông Nguyễn Ngọc L bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tích là 04% theo bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 07/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 17/01/2024, anh Nguyễn Ngọc T bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tích là 03% theo bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 06/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 17/01/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trần Ngọc Q đã sử dụng que gỗ là hung khí nguy hiểm gây thươn tích cho ông L và anh T, bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS 2015.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc Q gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc T là người thần kinh, tâm thần mức độ nặng có giấy xác nhận khuyết tật của UBND xã T. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác” quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc Q trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trong. Bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa số tiền 1.000.000đồng theo biên lai số 0000009 để bồi thường bị hại ông Nguyễn Ngọc L, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy số tiền này chưa đủ điều kiện để được xem xét là bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có bố ông Trần C là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về mức án mà Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc Q từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ:
Hội đồng xét xử xét thấy tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo là gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Mặc dù bị cáo tuổi đã cao nhưng chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng que gỗ (cành cây cọ) vừa chặt xong là hung khí nguy hiểm đánh nhiều lần vào vùng đầu và người ông L, sau đó khi anh T (con trai ông L) chạy tới bị cáo tiếp tục dùng que gỗ đánh anh T mặc dù biết anh T người bị khuyết tật nặng. Vì vậy, bị cáo bị áp dụng một tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác nên cần xét xử bị cáo với hình phạt nghiêm minh, để giáo dục bị cáo và răn đe chung cho xã hội.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét cho bị cáo những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52 và Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát cũng đúng với chính sách nhân đạo của pháp luật và đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tiến bộ.
[6] Về vật chứng vụ án:
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ vật chứng là hung khí gây án và không còn giá trị sử dụng:
- 01 gậy gỗ đã khô, tối màu dài 67cm, đường kính nơi lớn nhất là 4,5cm, nơi bé nhất là 2,5cm, ở một đầu que gỗ có nạng chia làm hai nhánh.
- 01 que dài 92cm, được niêm phong dán kín, được niêm phong bằng các chữ ký của người tham gia niêm phong, hình dấu của Công an xã T, huyện T, bên trong có: 01 bèn cây lá cọ, màu xanh còn tươi, chiều dài 92cm, hình tam giác, hai cạnh có gai nhọn, một đầu bị dập nát chia thành nhiều mảnh nhỏ và một vẫn còn nguyên.
- Đối với 01 cây rựa dài 71cm, trong đó cán rựa làm bằng gỗ tròn, đường kính 4,5cm, cán dài 42,7cm. Lưỡi rựa làm bằng kim loại có màu tối, dài 28,3cm, bản nơi rộng nhất là 5,5cm là của bị cáo Q, không sử dụng để gây án. Vì vậy, cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho bị cáo Trần Ngọc Q
[7] Về trách nhiệm dân sự: Theo Bảng tổng hợp chi phí điều trị và chăm sóc của ông Nguyễn Ngọc L và anh Nguyễn Ngọc T ngày 25/3/2024 mà ông L kê khai bao gồm những khoản sau:
* Đợt 1:
- Viện phí của ông Nguyễn Ngọc L từ ngày 21/11/2023 đến ngày 30/11/2023 là: 4.238.000 đồng;
- Tiền ăn (sáng, trưa, tối) 09 ngày của ông L: 810.000 đồng;
- Tiền viện phí của anh Nguyễn Ngọc T: 3.986.000 đồng;
- Tiền ăn (sáng, trưa, tối) 09 ngày của anh T: 810.000 đồng;
- Tiền công người nuôi 09 ngày: 2.700.000 đồng;
- Tiền ăn người nuôi (sáng, trưa, tối) 09 ngày: 810.000 đồng;
- Tiền thuốc của ông L: 1.780.000 đồng;
- Tiền thuốc của anh T: 750.000 đồng;
- Tiền mua nước, sữa, hoa quả.....: 3.100.000 đồng;
- Tiền xe cấp cứu chiều ngày 20/11/2023 từ xã T đến thị trấn Đ: 300.000 đồng;
- Tiền xe cấp cứu chuyển từ Bệnh viện đa khoa huyện T đến Bệnh viện C1: 800.000 đồng;
- Tiền thuê xe ra viện từ Bệnh viện C1 đến xã T: 800.000 đồng;
* Đợt 2:
- Viện phí ông Nguyễn Ngọc L từ ngày 19/12/2023 đến ngày 26/12/2023: 4.382.000 đồng;
- Tiền thuốc: 1.050.000 đồng;
- Tiền ăn (sáng, trưa, tối): 720.000 đồng;
- Tiền công người nuôi 08 ngày: 2.400.000 đồng;
- Tiền ăn người nuôi (sáng, trưa, tối) 08 ngày: 720.000 đồng;
- Tiền nước yến, sữa, hoa quả.....: 1.020.000 đồng;
- Tiền xe cấp cứu từ xã T vào Bệnh viện C1: 700.000 đồng;
- Tiền xe ra viện: 50.000 đồng;
* Tiền công lao động của ông L (trong thời gian nằm viện không có thu nhập: 18 ngày + 10 ngày phục hồi sức khỏe: 200.000 đồng/ngày): 5.600.000 đồng.
Tổng cộng là 37.508.000 đồng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa Nguyễn Ngọc L và người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Ngọc T yêu cầu ông Trần Ngọc Q bồi thường các chi phí trong quá trình điều trị vết thương số tiền 31.900.000đồng.
Qua xem xét hóa đơn, chứng từ và các chi phí hợp lý cho việc điều trị vết thương và phục hồi sức khỏe của ông Nguyễn Ngọc L và anh Nguyễn Ngọc T. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với khoản tiền viện phí bị hại đã kê khai chỉ chấp nhận số tiền thực tế bị hại đã chi trả, không tính số tiền được bảo hiểm xã hội thanh toán; đối với khoản tiền mất thu nhập của người chăm sóc bị hại kê khai với mức 300.000đồng/ngày Hội đồng xét xử chấp nhận mức 200.000đồng/ngày là phù hợp với thực tế. Ngoài ra, đối với các khoản tiền ăn của bị hại và người chăm sóc trong các ngày nằm viện, tiền mua sữa, nước yến, hoa quả cho người bệnh Hội đồng xét xử xét thấy không phù hợp nên không chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận khoản chi phí hợp lý sau:
* Đợt 1:
- Tiện phí của ông Nguyễn Ngọc L từ ngày 21/11/2023 đến ngày 30/11/2023 là: 1.017.578 đồng;
- Tiền viện phí của anh Nguyễn Ngọc T: 212.300 đồng;
- Tiền thuốc của ông L: 1.780.000 đồng;
- Tiền thuốc của anh T: 750.000 đồng;
- Tiền xe cấp cứu chiều ngày 20/11/2023 từ xã T đến thị trấn Đ: 300.000 đồng;
- Tiền xe cấp cứu chuyển từ Bệnh viện đa khoa huyện T đến Bệnh viện C1: 800.000 đồng;
- Tiền thuê xe ra viện từ Bệnh viện C1 đến xã T: 800.000 đồng;
- Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh nhân (10 ngày, từ ngày 21/11/2023 đến ngày 30/11/2023): 10 ngày x 200.000 đồng = 2.000.000 đồng;
* Đợt 2:
- Viện phí ông Nguyễn Ngọc L từ ngày 19/12/2023 đến ngày 26/12/2023: 1.046.320 đồng;
- Tiền thuốc: 1.050.000 đồng;
- Tiền xe cấp cứu từ xã T vào Bệnh viện C1: 700.000 đồng;
- Tiền xe ra viện: 50.000 đồng;
- Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh nhân (08 ngày, từ ngày 19/12/2023 đến ngày 26/12/2023): 08 ngày x 200.000 đồng = 1.600.000 đồng;
* Tiền mất thu nhập của ông L (trong thời gian nằm viện không có thu nhập: 18 ngày + 10 ngày phục hồi sức khỏe: 200.000 đồng/ngày): 5.600.000 đồng.
Tổng cộng số tiền bồi thường được Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc Trần Ngọc Q phải bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc L và anh Nguyễn Ngọc T là 17.706.000 đồng. Bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa số tiền 1.000.000 đồng nhằm bồi thường thiệt hại, số tiền còn lại Trần Ngọc Q phải bồi thường tiếp là 16.706.000 đồng.
Vì vậy, cần áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc Trần Ngọc Q phải tiếp tục bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc L và anh Nguyễn Ngọc T số tiền 16.706.000 đồng (mười sáu triệu bảy trăm linh sáu nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Ngọc L được nhận số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Q đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số 0000009 ngày 16/4/2024.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự có giá nghạch: Bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 835.300 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Xử phạt Trần Ngọc Q 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
- Về vật chứng vụ án:
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ:
- 01 gậy gỗ đã khô, tối màu dài 67cm, đường kính nơi lớn nhất là 4,5cm, nơi bé nhất là 2,5cm, ở một đầu que gỗ có nạng chia làm hai nhánh.
- 01 que dài 92cm, được niêm phong dán kín, được niêm phong bằng các chữ ký của người tham gia niêm phong, hình dấu của Công an xã T, huyện T, bên trong có: 01 bèn cây lá cọ, màu xanh còn tươi, chiều dài 92cm, hình tam giác, hai cạnh có gai nhọn, một đầu bị dập nát chia thành nhiều mảnh nhỏ và một đầu vẫn còn nguyên.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Trần Ngọc Q: 01 cây rựa dài 71cm, trong đó cán rựa làm bằng gỗ tròn, đường kính 4,5cm, cán dài 42,7cm. Lưỡi rựa làm bằng kim loại có màu tối, dài 28,3cm, bản nơi rộng nhất là 5,5cm, đầu có móc, đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc Trần Ngọc Q phải tiếp tục bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc L và anh Nguyễn Ngọc T số tiền 16.706.000 đồng (mười sáu triệu bảy trăm linh sáu nghìn đồng).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Ngọc Q cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định của Luật Thi hành án hình sự. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
Ông Nguyễn Ngọc L được nhận số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) bị cáo Trần Ngọc Q đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số 0000009 ngày 16/4/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi, theo lãi suất được xác định theo khoản 2 Điều 468 BLDS.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án phí dân sự có giá ngạch: Bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 835.300 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại. Tuyên bố bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/5/2024).
(Đã giải thích chế định cải tạo không giam giữ)
Nơi nhận:TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Đoàn Thị Bích Thủy |
Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 18/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Q phạm tội cố ý gây thương tích
