Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Kim Bình

2. Ông Phạm Đức Hoàn

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn H - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc A - Sinh ngày 07/10/1994 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H1; sinh năm 1970 và bà Lê Thị T; sinh năm 1970; Vợ Nguyễn Thị H2; sinh năm 1999; Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M huyện N từ ngày 02/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lương Văn Q – sinh ngày 15 tháng 7 năm 2004 (đã chết)

Nơi cư trú: Bản Vực, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lương Thị M – sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Bản Vực, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Những người làm chứng:

  1. Trần Trung K, sinh năm: 1993 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Đỗ Ngọc T1, sinh năm: 1985 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ, ngày 05/12/2023 Nguyễn Ngọc A, trú tại thôn M, xã M, huyện N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1-014.63 trên đường H theo hướng huyện T đi huyện C, khi điều khiển xe đến Km559 thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện N, Nguyễn Ngọc A thấy người quen là anh Đỗ Ngọc T1, trú tại xã K, huyện N và anh Trần Trung K, trú tại xã M, huyện N đang dừng xe trên lề đường bên phải theo hướng đi của mình. Thấy vậy, Nguyễn Ngọc A điều khiển xe mô tô chuyển hướng quay đầu xe để đến chỗ anh T1 và anh K đang đứng thì xảy ra va chạm với xe mô tô biểm kiểm soát 37H2-005.55 do anh Lương Văn Q, trú tại Bản V, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An điều khiển theo hướng huyện T đi huyện C, làm anh Q ngã xuống đường bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ và Bệnh viện đa khoa tỉnh T, đến ngày 06/12/2023 thì anh Q chết.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, phương tiện: nơi xảy ra tai nạn thuộc km559 đường H, thuộc thôn T, xã K, huyện N, mặt đường thảm nhựa, vạch kẻ đường phân chia đường là vạch đứt, đường có đầy đủ hệ thống cọc tiêu biển báo; lòng đường rộng 6,37m; lề đường phải theo chiều hướng huyện C đi T rộng 1,25m, rãnh thoát nước bê tông không có nắp đậy rộng 1,20m; lề đường trái rộng 1,30m, rãnh thoát nước bê tông không có nắp đậy rộng 1,20m. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường nằm ở phần đường bên phải theo hướng huyện T đi huyện C. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là mặt ngoài bên phải đầu bò, mặt ngoài trên cốt sắt định vị phần dưới cánh yếm bên phải, mặt trước ốp bên phải lốc máy xe mô tô biểm kiểm soát: 37H2–005.55 với mặt và má hai bên lốp trước tương ứng trên hàng trữ “USE ONLY” xe mô tô biển kiểm soát: 36D1–014.63. Tại thời điểm va chạm xe mô tô biển kiểm soát 36D1–014.63 có hướng chuyển động từ phải sang trái chếch ngược chiều so với hướng chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 37H2–005.55.

Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 4592/KLGĐTT-PC09 ngày 21/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của anh Lương Văn Q: Vỡ xương hộp sọ, tụ máu não, dập não.

Tại Bản kết luận giám định hóa pháp số 1737/PY-XNĐH ngày 20/12/2023 của V giám định ma túy trong máu đối với anh Lương Văn Q kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Lương Văn Q.

Tại Bản kết luận giám định số 4490/KL-KTHS ngày 14/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu của Lương Văn Q, Nguyễn Ngọc A niêm phong gửi giám định không có cồn. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Ngọc A.

Quá trình điều tra xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Nguyễn Ngọc A điểu khiển xe mô tô chuyển hướng quay đầu xe không chú ý quan sát nên dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên. Mặt khác Nguyễn Ngọc A điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định. Hành vi của Nguyễn Ngọc A đã vi phạm khoản 2 Điều 15 và khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.

Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định: “2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây “trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”

Khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: “9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.”

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36D1-014.63 và xe mô tô biển kiểm soát 37H2-005.55 có đầy đủ giấy tờ chứng minh chủ sở hữu và đang trong thời hạn được phép lưu hành theo quy định của pháp luật, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã tự thống nhất thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 25/CT-VKS - NL ngày 23/4/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Ngọc A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Anh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.

- Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc A cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã được bồi thường đầy đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên đề nghị không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36D1-014.63 và xe mô tô biển kiểm soát 37H2-005.55 có đầy đủ giấy tờ chứng minh chủ sở hữu và đang trong thời hạn được phép lưu hành theo quy định của pháp luật, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định nên đề nghị không xem xét.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo nhận tthức được lỗi của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định pháp y, bản kết luận giám định phương tiện liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa khẳng định: Khoảng 23 giờ, ngày 05/12/2023 Nguyễn Ngọc A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1-014.63 theo hướng huyện T đi huyện C, khi đi đến km 559 thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện N, Nguyễn Ngọc A bất ngờ chuyển hướng do không chú ý quan sát dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 37H2-005.55 do anh Lương Văn Q điều khiển ngã xuống đường bị thương, đến ngày 06/12/2023 anh Q chết.

Ngoài ra, khi Nguyễn Ngọc A điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ không có giấy phép lái xe theo quy định. Hành vi của Nguyễn Ngọc A đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8; khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về hành vi phạm tội như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hiện nay tình hình tai nạn giao thông diễn ra hết sức phức tạp, có chiều hướng tăng nên việc đưa ra xét xử các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là cần thiết. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận lỗi của bị cáo điều khiển xe mô tô khi chuyển hướng, không quan sát nên dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Lương Văn Q điều khiển đang đi cùng chiều đi của xe bị cáo, đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn. Hậu quả làm anh Lương Văn Q tử vong. Hơn nữa bị cáo khi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật đã vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội của bị cáo là vô ý nhưng hậu quả xảy ra là nghiêm trọng nên cần phải đưa bị cáo ra xét xử và bắt bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và hậu quả mà mình đã gây ra.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã chủ động thỏa thuận bồi thường cho gia đình người bị hại, bị cáo được đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Từ những đánh giá trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, không mong muốn hậu quả xảy ra, bị cáo có nhân thân tốt, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, đang phải chăm sóc bố đẻ là người khuyết tật, nuôi mẹ già yếu, bệnh tật đồng thời đang phải nuôi con còn nhỏ nên không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù có điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo chấp hành án dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, là thỏa đáng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước.

[5] Xét về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét về phần bồi thường dân sự: Quá trình điều tra bị cáo và đại điện gia đình bị hại đã thống nhất xong việc bồi thường dân sự. Xét thấy việc bồi thường dân sự của các bên là hoàn toàn tự nguyện, đại diện hợp pháp cho người bị hại không có ý kiến gì, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên HĐXX công nhận việc bồi thường dân sự đã xong.

[7] Xét về vật chứng:

- Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36D1-014.63 và xe mô tô biển kiểm soát 37H2-005.55 có đầy đủ giấy tờ chứng minh chủ sở hữu, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định, do đó Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS.

- Tuyên bố: Nguyễn Ngọc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt: Nguyễn Ngọc A 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc A cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người đại diện hợp pháp cho người bị hại. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc;
  • - Cơ quan THAHS huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Xuân Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Triệu Kim BìnhPhạm Xuân Thành
Phạm Đức Hoàn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger