Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

V/v tranh chấp về hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Triều.
  2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Tòng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 341/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Số D, ấp V, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt có đơn)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Số A, ấp V, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn B trình bày: Do chỗ quen biết nên ông Nguyễn Văn B có cho anh Nguyễn Văn V vay vốn các khoản tiền như sau: Lần 1: Vào ngày 03/01/2019, ông B có cho anh V vay số tiền vốn là 3.500.000 đồng, có làm biên nhận nợ ngày 03/01/2019, anh V có ký tên và ghi họ tên vào biên nhận, hợp đồng vay tiền không ghi nhận lãi suất, không xác định thời hạn trả nợ. Lần 2: Vào ngày 25/5/2019, ông B có cho anh V vay số tiền vốn là 3.000.000 đồng, anh V có ký tên và ghi họ tên vào biên nhận đề ngày 25/5/2019, hợp đồng vay tiền không ghi nhận lãi suất, không xác định thời hạn trả. Từ khi vay đến nay anh V không trả vốn và cũng không có đóng lãi cho ông B. Ông B đã nhiều lần đến nhà anh V yêu cầu trả vốn, lãi nhưng anh V vẫn không trả. Ông B có gửi đơn thưa anh V đến Ban N, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để yêu cầu anh V trả nợ số tiền vốn 6.500.000 đồng và lãi. Tại Ban N thì anh V thừa nhận nợ và đồng ý trả số tiền vốn, tiền lãi là 8.500.000 đồng.

- Theo biên bản hoà giải ngày 20/12/2023, anh Nguyễn Văn V trình bày: Anh V thừa nhận có vay tiền của ông B một lần, vay năm nào anh V không nhớ rõ, vay số tiền là 3.000.000 đồng, mục đích vay để trả nợ, lãi suất 1.000.000 đồng/100.000 đồng/tháng, có làm biên nhận nợ nhưng ông B giữ, vay không xác định thời hạn. Từ khi vay tiền đến nay anh V đã đóng lãi được 1.500.000 đồng nhưng không có làm giấy tờ. Đối với biên nhận đề ngày 03/01/2019, anh V thừa nhận có ký tên, ghi rõ họ tên Nguyễn Văn V, nhưng đối với số tiền ghi trong biên nhận là 3.500.000 đồng thì anh V không có vay số tiền nầy và cũng không có nhận 3.500.000 đồng từ ông B mà do ông B tự ghi vào biên nhận. Tuy nhiên, anh V không yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết trong biên nhận.

- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

  • + Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ và tiến hành thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt là chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
  • + Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các chứng khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn là anh Nguyễn Văn V, địa chỉ cư trú tại ấp V, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn B có đơn xin xét xử vắng mặt, còn anh Nguyễn Văn V vắng mặt không lí do. Đại diện Viện kiểm sát huyện L đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn B đã có đơn xin vắng mặt, còn anh Nguyễn Văn V do được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lí do, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3]. Về nội dung: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn B có đơn xin vắng mặt và có yêu cầu anh V trả số tiền vay còn nợ vốn là 6.500.000 đồng, rút yêu cầu anh V trả tiền lãi còn nợ 2.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện ông B nộp hai biên nhận nợ ngày 03/01/2019 và ngày 25/5/2019. Xét hợp đồng vay tài sản giữa ông B với anh V tuy không làm hợp đồng cụ thể, nhưng thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận hai bên, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, lúc giao kết vay hai bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng vay được xem là hợp pháp. Nhưng quá trình thực hiện hợp đồng anh V chưa trả đầy đủ tiền cho ông B là vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.

Theo Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định:

“ 1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2.......”

Hội đồng xét xử, xét thấy theo biên nhận nợ ngày 25/5/2019 giữa ông B với anh V thỏa thuận như sau: “...tôi tên Nguyễn Văn V....có nhận của ông Nguyễn Văn B, hiện ngụ: Ấp V, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp số tiền là 3.000.000 đồng...”. Anh V vắng mặt nhưng theo biên bản hòa giải ngày 20/12/2023, anh V có nợ tiền số tiền vốn 3.000.000 đồng, mục đích vay để lấy tiền trả nợ, lãi suất 1.000.000 đồng/100.000 đồng/tháng, có đóng lãi cho anh B 1.500.000 đồng nhưng không có làm biên nhận. Đối với biên nhận nợ ngày 25/5/2019, giữa ông B với anh V thỏa thuận như sau: “...tôi tên Nguyễn Văn V...có nhận của ông Nguyễn Văn B, hiện ngụ: Ấp V, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp số tiền là 3.500.000 đồng...”. Anh V vắng mặt nhưng theo biên bản hòa giải ngày 20/12/2023, anh V thừa nhận có ký tên, còn số tiền vay 3.500.000 đồng do ông B tự ghi vào biên nhận nợ, còn tiền anh V không có nhận. Theo Thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ số 180/TB-TA ngày 20 tháng 12 năm 2023, về việc yêu cầu anh V cung cấp chứng cứ như sau: “... Cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc ai biết việc anh V vay tiền của ông B lãi suất 1.000.000đồng/100.000đồng/tháng.... Cung cấp chứng cứ số tiền đóng lãi 1.500.000 đồng và cung cấp chứng cứ không có nhận số tiền 3.500.000 đồng....”, hết thời hạn quy định anh V không cung cấp cho Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, buộc anh V trả lại cho ông B số tiền vay còn nợ vốn 6.500.000 đồng.

[4] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn B rút một phần yêu cầu anh V trả số tiền lãi 2.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B nên anh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B yêu cầu anh Nguyễn Văn V trả tiền vay còn nợ vốn 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Đình chỉ một phần yêu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B yêu cầu anh Nguyễn Văn V trả tiền lãi 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Buộc anh Nguyễn Văn V trả cho ông Nguyên Văn B1 tiền vay còn nợ vốn 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Nguyễn Văn V phải nộp 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - THA dân sự huyện;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ. (T)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 18/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông B yêu cầu V trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger