|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2024
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nước
- Ông Hà Văn Quen
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phan Trọng N, sinh năm 1979; (có mặt)
- Nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- - Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1983; (vắng mặt)
- Nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Nơi ở hiện nay: Ấp C, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/02/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phan Trọng N trình bày:
Ông và bà Trần Thị C hai bên xác lập quan hệ hôn nhân năm 2009 và đăng ký kết hôn tại UBND xã D ngày 26/01/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là bà C không giữ thể diện, thường xuyên chửi ông, có lần còn đập phá xe máy và hai lần đuổi ông ra khỏi nhà, không những vậy bà C còn có thái độ thiếu tôn trọng cha, mẹ chồng. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài. Nay ông yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị C và yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Phan Trọng T, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/4/2024 bị đơn Trần Thị C trình bày: Bà và ông N kết hôn vào năm 2010, sau đó bà làm dâu bên nhà chồng được 11 năm. Trong thời gian chung sống bà có nói với ông N xin một nền nhà của cha mẹ chồng ở gần đó để cất nhà ra ở riêng nhưng ông N không chịu, ngoài ra thì ông N còn thường xuyên đi chơi, không quan tâm đến vợ con, từ đó mâu thuẫn đỉnh điểm nên bà đã về ấp C, xã D ở đến nay đã 03 năm. Nay nếu như ông N kiên quyết muốn ly hôn thì bà cũng đồng ý nhưng ông N phải đáp ứng 03 điều kiện là:
- Thứ nhất: Ông N phải chia cho bà mảnh đất ở ấp C, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, mảnh đất này phải chia ra thành 03 phần, bà, ông N và con trai mỗi người một phần.
- Thứ hai: Trong thời gian chung sống thì bà có mua bảo hiểm nhân thọ cho con trai với mức phí là 15.000.000 đồng/năm. Bà đã đóng phí được 06 năm, hiện nay không còn khả năng đóng nữa nên còn lại 09 năm sau ông N phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho con trai.
- Thứ ba: Yêu cầu ông N phải phụ bà nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn Trần Thị C đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của đương sự, không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Về nội dung vụ án, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Phan Trọng N và bà Trần Thị C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung, đề nghị giao cháu Phan Trọng T cho ông N nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Trần Thị C được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Phan Trọng N: Hội đồng xét xử thấy rằng, theo lời trình bày của ông N tại phiên tòa, lời khai của bà C, cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân đối với cha mẹ ruột của ông N thì mâu thuẫn giữa ông N, bà C là có thật và đã trầm trọng, bà C cũng khẳng định giữa hai người đã có nhiều mâu thuẫn nên bà đã về bên nhà mẹ ở ấp C, xã D ở và vợ chồng đã ly thân đến nay đã 03 năm. Tại phiên tòa ông N cũng thể hiện ý chí kiên quyết muốn ly hôn do không thể nào tiếp tục chung sống được với bà Trần Thị C. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa hai người đã rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phan Trọng N.
[3] Về con chung: Ông N và bà C có với nhau một người con chung là cháu Phan Trọng T, sinh ngày 05/11/2010. Xét thấy cháu T có nguyện vọng ở với ông N, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T cho ông N tiếp tục nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con mà không ai được cản trở. Ông N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4] Xét các ý kiến của bà C về yêu cầu chia đất, đóng tiền bảo hiểm nhân thọ cho con, Tòa án đã cho bà C thời hạn để làm đơn yêu cầu trong đó phải nêu rõ thông tin và yêu cầu cụ thể nhưng bà C không thực hiện, nếu sau này bà C có yêu cầu thì khởi kiện bằng một vụ kiện khác. Đối với ý kiến yêu cầu ông N phụ tiền nuôi con, bà C cũng khẳng định đây không phải là yêu cầu cấp dưỡng mà là vì hiện nay bà không có công việc và thu nhập gì, con trai cũng thường xuyên lên ở với bà nên yêu cầu ông N phải phụ tiền nuôi con, hơn nữa Hội đồng xét xử đã quyết định giao cháu T cho ông N nuôi dưỡng, do đó ý kiến này cũng không được xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Ông N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có.
[6] Về án phí: Ông N phải chịu án phí ly hôn quy định của pháp luật.
[7] Xét ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Ông Phan Trọng N được ly hôn với bà Trần Thị C.
- Về con chung: Giao Phan Trọng T, sinh ngày 05/11/2010 cho ông Phan Trọng N nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà Trần Thị C không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với ông Phan Trọng N và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Ông Phan Trọng N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh theo biên lai thu tiền số 0002192 ngày 27/02/2024.
- Ông Phan Trọng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Trần Thị C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN |
|
|
Phạm Phi Long |
Hà Văn Quen |
Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Ông Phan Trọng Nghĩa được ly hôn với bà Trần Thị Cúc. 2. Về con chung: Giao Phan Trọng Tín, sinh ngày 05/11/2010 cho ông Phan Trọng Nghĩa nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà Trần Thị Cúc không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với ông Phan Trọng Nghĩa và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Ông Phan Trọng Nghĩa phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh theo biên lai thu tiền số 0002192 ngày 27/02/2024. 4. Ông Phan Trọng Nghĩa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Trần Thị Cúc có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
