TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Án số:18/2024/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 7 năm 2024 “V/v ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thuỷ
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử - Cán bộ hưu trí
Bà Dương Thị Thu Hồng - HPN xã Cẩm Ninh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký TAND huyện Ân Thi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:
Ông Đỗ Văn Tú- Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ân Thi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 11/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số10/QÐST-HNGĐ ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988
- Nơi cư trú: thôn S, xã P, huyện Â, Hưng Yên
- - Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1992
- HKTT: Thôn P, xã P, huyện Â, Hưng Yên
- - Người có quyền lợi liên quan: Cháu Vũ Thị Yến N, sinh ngày 02/8/2012
- - Người đại diện cho cháu N: Chị H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai của chị Nguyễn Thị H, trong quá trình tố tụng thể hiện:
Chị H và anh T tự quyen biết và tìm hiểu nhau một thời gian ngắn thì tổ chức cưới. Anh chị xây dựng vợ chồng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào năm 2011. Sau khi cưới, anh T về nhà chị H chung sống cùng gia đình chị, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị và anh T càng sống với nhau càng thấy xung khắc nhau về mọi mặt, mỗi người một quan điểm, một cách sống khác nhau nên giữa hai người luôn xảy ra tranh cãi. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng cuối cùng anh chị vẫn không thể hòa hợp được. Năm 2014, anh T bỏ đi làm ăn ở nơi khác, từ đó không qua lại, thăm hỏi gì gia đình chị nữa. Vợ chồng ly thân từ thời gian đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xác định tình
cảm vợ chồng từ lâu đã không còn, không thể quay về với nhau dược nữa. Do vậy chị H đề nghị Tòa xem xét, giải quyết cho chị ly hôn anh T
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Vũ Thị Yến N sinh năm 2012, từ khi anh T bỏ đi, chị H một mình nuôi dưỡng chăm sóc con chung, anh T không có trách nhiệm gì. Nếu vợ chồng ly hôn, chị H xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Về tài sản, công nợ: chị H không có yêu cầu đề nghị gì.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù anh Vũ Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng anh không có mặt để trình bày quan điểm và tham gia hòa giải tại Tòa án.
Lời khai của người có quyền lợi liên quan- cháu Vũ Thị Yến N:
cháu là con của bố Vũ Văn T và mẹ cháu là Nguyễn Thị H. Bố mẹ cháu sinh được mỗi cháu sau đó bố bỏ đi chỉ còn mẹ và cháu, cháu đang học lớp 6 ở trường THCS xã P. Quá trình chung sống của gia đình, cháu có thấy bố mẹ không sống cùng nhau đã lâu rồi, cháu còn nhỏ thì bố mẹ đã không còn ở với nhau, cháu ở với mẹ và bà ngoại là chủ yếu chỉ thỉnh thoảng bố qua thăm con chứ còn hầu hết là không quan tâm cháu. Khi cháu lớn lên có nhận thức được thì cháu thấy bố mẹ không sống cùng nhau bao giờ, khi gặp lại cãi nhau. Chuyện bố mẹ cháu thấy không thể hòa hợp được. Bố bỏ đi không quan tâm gì mẹ con cháu. Nếu bố mẹ không ở cùng nhau cháu muốn ở cùng mẹ.
Lời khai của những người làm chứng:
- Ông Phan Văn Đ là cậu ruột của anh T cho biết: Trước đây mẹ con anh T ở P sau đó vào Lâm Đồng làm ăn thì anh T ở nhà với ông. Khi anh T kết hôn với chị H thì ở rể nhà chị H ở thôn S, xã P. Năm 2011 khi anh T lấy chị H chính vợ chồng ông là người đứng ra lo. Anh T sống với chị H khoảng một năm thì vợ chồng trục trặc, ông chỉ được anh T nói là do bố chị H khó tính nên không ở được nên anh T về nhà ông ở sau đó thường xuyên đi làm ăn xa thỉnh thoảng về. Chị H và anh T ly thân từ khoảng năm 2012 cho đến nay, hai bên cũng không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị H yêu cầu ly hôn anh T, góc độ gia đình ông cũng không muốn tuy nhiên vợ chồng không còn chung sống với nhau nên ông cũng không có ý kiến gì, mọi việc do anh chị tự quyết định. Về con chung anh T với chị H có một con gái chung là cháu Vũ Thị Yến N sinh năm 2012, cháu N hiện ở cùng chị H. Anh T đi làm ở nhiều nơi không cố định, gần đây anh T có điện trao đổi với ông rằng anh T bận không về nên có nhờ ông nhận giấy tờ hộ. Quan điểm anh T cũng nhất trí ly hôn vì vợ chồng ly thân cũng hơn 10 năm nay, đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Nghĩa 1 em trai của chị H cung cấp: do có mai mối nên anh T và chị H quen biết nhau, sau một thời gian tự tìm hiểu thì anh chị kết hôn và được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi. Do bố mẹ anh T ly hôn từ lúc còn nhỏ nên anh T ở cùng mẹ, sau khi mẹ anh T đi lấy chồng thì anh T ở cùng ông Đ, cậu ruột anh T ở thôn P. Do hoàn cảnh nên khi lấy nhau về anh T ở rể nhà anh. Thời gian chung sống anh T chị H hay sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T chơi bời thậm chí còn cặp bồ ở bên ngoài nên vợ chồng hay cãi nhau. Bố mẹ tôi có ý kiến thì anh T khó chịu và bỏ về nhà ông Đ ở và sau đó đi làm ăn ngoài không quan tâm hỏi han gì vợ con. Bố mẹ và gia đình anh đều xác định chị H và anh T không còn tình cảm gì nữa nên việc ly hôn là cần thiết để chị H ổn định cuộc sống nên cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H ly hôn anh T.
- Xác minh với chính quyền địa phương được biết: Anh T và chị H đều có hộ khẩu thường trú tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã vào 21/02/2011. Khi anh T kết hôn với chị H mọi việc đều do ông Đ là cậu ruột đứng ra lo liệu. Sau khi kết hôn anh T về sinh sống cùng nhà chị H. Quá trình sống chung mâu thuẫn vợ chồng anh T chị H mâu thuẫn nên anh T bỏ về nhà ông Đ ở sau đó thì đi làm ăn bên ngoài. Về con chung: hai vợ chồng chị H, anh T có một con chung là cháu Vũ Thị Yến N, sinh năm 2012 có đăng ký khai sinh tại UBND xã. Hiện cháu N ở cùng chị H. Về tài sản chung, công nợ: UBND xã không nắm được. Nay chị H có đơn xin ly hôn, UBND xã đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa: Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
*. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án.
*. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
*. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Điều 70, 71, 73 78 BLTTDS.
- Bị đơn đã được Toà án triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng vắng mặt không lý do, vi phạm khoản 15, 16 Điều 70 BLTTDS.
* Quan điểm giải quyết vụ án:
- Căn cứ vào các tình tiết, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 238 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí. Đề nghị xử:
- Về tình trạng hôn nhân: tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy có đủ căn cứ xử cho chị H ly hôn anh T.
- Về con chung: giao cháu N cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi đã nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, việc tranh luận và phát biểu của KSV tham gia phiên tòa. HĐXX nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung, vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Vũ Văn T hiện đăng ký thường trú tại xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, nên căn cứ khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi.
Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.
- Về quan hệ hôn nhân:
- [2.1] Về việc kết hôn: Chị H và anh T xây dựng vợ chồng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện  vào năm 2012, đảm bảo các điều kiện về kết hôn. Do vậy hôn nhân nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Khi một bên có yêu cầu ly hôn sẽ áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.
- [2.2]Về mâu thuẫn vợ chồng: Quá trình giải quyết vụ án, chị H cũng như người làm chứng là hai bên gia đình đều thừa nhận vợ chồng anh T chị H có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn thì chị H và những người làm chứng đưa ra tuy có khác nhau nhưng có căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và đã ly thân hơn 10 năm nhưng vẫn không hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án, chị H kiên quyết ly hôn, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh T đến để làm việc và hoà giải, nhưng anh T đều vắng mặt điều đó phần nào thể hiện anh T không có nguyện vọng hay mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng đảm bảo ổn định đời sống của mỗi người.
- [3]Về con chung: Chị H, anh T có 01 con chung là cháu Vũ Thị Yến N sinh ngày 02/8/2012, hiện cháu đang ở cùng chị H. Vợ chồng ly hôn, chị H đề nghị nuôi được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi vợ chồng ly thân, cháu N ở với mẹ và chủ yếu việc nuôi dưỡng chăm sóc cháu do chị H đảm nhiệm, hơn nữa cháu N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, vì cháu vẫn còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, anh T thường xuyên vắng nhà, không có điều kiện chăm sóc con chung nên sẽ giao cháu N cho chị H tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng đến khi thành niên để tránh sự xáo trộn cuộc sống của cháu. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [4] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này anh T có yêu cầu đề nghị gì về phần tài sản, công sức, công nợ của vợ chồng thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
- [5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh Vũ Văn T
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Vũ Thị Yến N sinh ngày 02/8/2012 đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H. Sau khi ly hôn, anh T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không xem xét, giải quyết
Nếu sau này anh T có yêu cầu về vấn đề tài sản chung, công nợ, công sức, thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
- Về án phí: chị H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm dân sự ly hôn (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000772 ngày 26/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi). Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án theo quy
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Thuỷ |
Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con chung
