|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 18/2024/DS-ST
Ngày: 15 - 5 - 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thắng
Bà Lê Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương là Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham
gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 212/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Hồng N, sinh năm 1973
- Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1969
- Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Trần Hồng N trình bày:
Vào năm 2019 bà N có cho bà H mượn số tiền 93.000.000 đồng, khi cho mượn không làm biên nhận nợ, bà H hứa trả mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng từ khi cho mượn đến năm 2021 bà hiệp không trả cho bà N khoản tiền nào nên vào ngày 29/4/2021 bà N có yêu cầu bà H ký vào biên nhận nợ tiền cho bà N. Đến tháng 02/2023 bà H có trả được số tiền 7.000.000 đồng thì ngưng cho đến nay.
Nay bà N khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc bà H trả số tiền còn nợ là 86.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Bị đơn Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Bà H thừa nhận có vay của bà N 02 lần với số tiền 40.000.000 đồng nhưng bà H không nhớ cụ thể vào thời gian nào. Từ khi vay đến nay bà H có trả được số tiền vốn là 7.000.000 đồng. Đối với phần lãi thì bà H đóng được nhiều lần nhưng không nhớ số tiền bao nhiêu. Biên nhận ngày 29/4/2021 (dl) là do bà H chính tay ký tên vào biên nhận, khi ký tên thì bà H có đọc lại và nhận thấy số tiền 93.000.000 đồng là không đúng, nhưng do lúc này bà H ở nhà một mình nên khi bà N yêu cầu ký nhận nợ số tiền 93.000.000 đồng thì bà Hiệp đồng ý ký chứ thực ra chỉ vay có 40.000.000 đồng. Nay bà H chỉ đồng ý trả số tiền 33.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Hồng N đối với bị đơn Nguyễn Thị Mỹ H. Buộc bị đơn Nguyễn Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Trần Hồng N số tiền còn nợ là 86.000.000 đồng. Án phí đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Các đương sự tranh chấp với nhau về việc vay tiền. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[2]. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ là 86.000.000 đồng hội đồng xét xử xét thấy. Bị đơn thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn nhưng chỉ thừa nhận có vay số tiền 40.000.000 đồng chứ không phải 93.000.000 đồng như phía nguyên đơn trình bày. Ngoài ra bị đơn cho rằng có trả lãi nhiều lần nhưng không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh, lời trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án biên nhận nợ vào ngày 29/4/2021 (dl), trong biên nhận thể hiện bà H có mượn số tiền là 93.000.000 đồng như phía nguyên đơn trình bày. Trong biên nhận có chữ ký của bị đơn, bị đơn thừa nhận khi ký thì có biết số tiền nhận nợ là 93.000.000 đồng nên hội đồng xét xử có căn cứ xác định có việc bị đơn còn nợ tiền của nguyên đơn như nguyên đơn trình bày.
Đối với việc bị đơn trình bày là có trả lãi cho nguyên đơn. Tuy nhiên, lời trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận và bị đơn cũng không có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình.
Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mình mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc bị đơn còn nợ tiền nguyên đơn là có thật. Việc bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ là có căn cứ.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm. Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.300.000 đồng
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng: Điều 463; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Hồng N đối với bị đơn Nguyễn Thị Mỹ H.
- 2. Buộc bị đơn Nguyễn Thị Mỹ H trả cho nguyên đơn Trần Hồng N số tiền còn nợ là 86.000.000 đồng.
- 3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- 4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp là 4.300.000 đồng. Nguyên đơn Trần Hồng N được nhận lại 2.150.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0009802 phiếu lập ngày 01/11/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- 5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- 6. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lữ Thành Đồng |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nh yêu cầu bà H trả số tiền còn nợ
