Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày 15/4/2024
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng;
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan;
Ông Lê Văn Nguyên;
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên;

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, vụ án giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu T, sinh năm 1987. HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kontum;
Hiện đang lao động tại: Công ty A Nhật Bản

* Bị đơn: Anh Phạm Thành C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số I N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Phạm Phương T1, sinh ngày 14 tháng 3 năm 2016;
Người giám hộ cho cháu T1: Anh Phạm Thành C (bố đẻ cháu T1)

* Người làm chứng:

  1. Bà Cao Thị X, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số I N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên;
  2. Bà Võ Thị Túy P, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kontum.

(Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu T trình bày:

Chị và anh Phạm Thành C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Kontum vào ngày 05/5/2015. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chị về nhà mẹ chị tại thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kontum sinh sống. Đến năm 2017 vợ chồng chị chuyển đến nhà bố mẹ anh C sinh sống tại tại số I N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Trong thời sống tại nhà bố mẹ chồng, chị có đi học tiếng Nhật tại Hà Nội còn anh C ở nhà chăm sóc gia đình. Do kinh tế khó khăn đến tháng 1 năm 2018 chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản cho đến nay. Tuy nhiên trong thời gian chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Thời gian đầu chị có gọi về hỏi thăm gia đình, con cái nhưng một thời gian sau anh C có quan hệ với người phụ khác nên vợ chồng chị lạnh nhạt, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn vợ chồng chị đã được hai bên gia đình gia đình khuyên bảo để vợ chồng sống hạnh phúc nhưng tính cách của anh C không thay đổi. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị và anh C có một con chung là cháu Phạm Phương T1, sinh ngày 14/3/2016, hiện cháu T1 đang ở với bà ngoại cháu là bà Võ Thị Túy P. Ly hôn chị xin tiếp tục được nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng. Chị làm nghề tự do ở bên Nhật Bản, thu nhập bình quân từ 20.000.0000 đồng đến 25.000.000 đồng/tháng đủ để nuôi con. Nếu anh C xin nuôi cháu T1 chị cũng đồng ý, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung từ 2.000.000-2.500.000 đồng/tháng. Trong trường hợp anh C không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con chung chị cũng đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay chị đang đi lao động tại Nhật Bản, chị có ủy quyền cho mẹ chị là bà Võ Thị T2 P nhận thay chị các văn bản tố tụng của Tòa án và mẹ chị sẽ có trách nhiệm thông báo để chị biết.

Bị đơn anh Phạm Thành C trình bày:

Anh xác nhận là đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và vì công việc bận nên anh không thể đến được. Sau đó anh được biết chị T làm đơn xin ly hôn anh. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị T cũng không còn nữa. Chị T làm đơn xin ly hôn với anh, anh đồng ý.

Về con chung: Như chị T đã trình bày. Ly hôn, anh có quan điểm xin nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

Quá trình giải quyết vụ án do anh bận công việc nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

C1 là Phạm Phương T1, cháu là con của mẹ Phạm Thị Thu T và bố Phạm Thành C. Hiện nay cháu đang sống cùng với mẹ và bà ngoại cháu tại Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kontum. Nếu bố mẹ cháy ly hôn, cháu có nguyện vọng muốn ở với mẹ cháu và ông bà ngoại. Lý do cháu xin ở với mẹ cháu vì từ bé cháu đã sống với mẹ, mẹ cháu quan tâm đến cháu hơn bố cháu. Cháu ở với mẹ cháu và bà ngoại, cuộc sống của cháu ổn định.

Hiện nay cháu đang học lớp 2 trường tiểu học xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum. Do cháu ở xa, lại đang phải đi học nên cháu đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt cháu.

Người làm chứng bà Võ Thị Túy P (mẹ đẻ chị T) trình bày:

Quá trình kết hôn, chung sống và ly thân như chị T đã trình bày. Nay chị T làm đơn xin ly hôn với anh C thì quan điểm của bà xác định chị T và anh C không còn hạnh phúc. Do vậy, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh với anh C. Chị T và anh C có một con chung là cháu Phạm Phương T1, sinh ngày 14/3/2016. Hiện nay cháu T1 đang ở với bà và chị T. Nếu chị T và anh C ly hôn, bà đề nghị giao cháu T1 cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng và bà xin có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 khi chị T ở Nhật Bản lao động. Hoàn cảnh bà kinh doanh buôn bán ở nhà, nhà bà rộng khoảng 150m² chỉ có bà với mẹ con chị T ở nên bà có điều kiện chăm sóc đưa đón cháu T1 đi học. Bà sẽ thay mặt chị T nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và sẽ thông báo lại cho chị T. Vì lý do bà ở xa, công việc bận và chăm sóc cháu T1 nên bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bà Cao Thị X (mẹ đẻ anh C) trình bày:

Quá trình kết hôn chung sông và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng cũng như con chung như chị T và anh C đã trình bày. Anh C đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, theo đó anh biết được việc chị T làm đơn xin ly hôn anh C, quan điểm của anh C như quan điểm anh đã trình bày trên. Bà xác định anh C sống với chị T không có hạnh phúc, nên bà đồng ý với quan điểm ly hôn của chị T.

Về con chung: Bà đề nghị giao cháu T1 cho anh C chăm sóc nuôi dưỡng và gia đình bà sẽ tạo điều kiện để chăm sóc hai bố con anh C để cháu T1 được phát triển tốt nhất. Trong quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu giải quyết vắng mặt bà

Tại công văn số 1394/QLXNC-P3 của Cục X1 – Bộ C2 về việc cung thông tin XNC cung cấp: Trường hợp hợp chị Phạm Thị Thu T, sinh ngày 26/12/1987, đã xuất nhập cảnh 07 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 13/01/2024.

Tại phiên tòa: Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt.

Chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử công bố tóm tắt nội dung vụ án, lời khai của đương sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ, Tòa án đã thực hiện việc thông báo và tống đạt văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của của chị Phạm Thị Thu T. Về con chung giao cháu T1 cho anh C được trực tiếp chăm sóc muôi dưỡng đến năm cháu T1 đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyên của anh C không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sanr các đương sự không yêu cầu Tòa án nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị Thu T có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Phạm Thành C, anh C cư trú tại Số I N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Hiện chị T đang lao động xuất khẩu tại Nhật Bản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 228 và 229 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn và cả hai đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Cả chị T và anh C đều xác định không còn tình cảm, chị T xin ly hôn, anh C đồng ý. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử cho chị T được ky hôn anh C là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh C có một con chung là cháu Phạm Phương T1, sinh ngày 14/3/2016. Hiện cháu T1 đang ở với mẹ đẻ chị T là bà Võ Thị Túy P. Ly hôn, hiện chị T ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc con chung, trong khi đó anh C ở trong nước có điểu kiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, về phía chị T cũng xác định nếu anh C có nguyện vọng nuôi cháu T1 chị cũng đồng ý. Do vậy, giao cháu T1 cho anh C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến năm cháu T1 đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh C không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Thu T:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu T được ly hôn anh Phạm Thành C.
  2. Về con chung: Giao cháu Phạm Phương T1 (hiện cháu T1 đang ở với bà Võ Thị Túy P mẹ đẻ chị T) cho anh Phạm Thành C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm cháu T1 đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh C không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con chung, chị T và anh C có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000093 ngày 05/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị Phạm Thị Thu T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, anh Phạm Thành C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Đắk Dục
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Tăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger