Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày: 23-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Mẫn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thị Thu Hà

2. Ông Nguyễn Phát To

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông. Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang. Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Nhà văn hóa xã T, huyện C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Út D (tên gọi khác: không), sinh năm 1979 tại huyện P, tỉnh H; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); Vợ: Huỳnh Thị Bích L; Con: 02 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 07/01/2003 bị Ủy ban nhân dân tỉnh C đưa vào trường giáo dưỡng 18 tháng theo quyết định số 76/QĐ-UBT. Ngày 18/02/2020 bị Ủy ban nhân nhân thị trấn M xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo quyết định số 01/QĐ-XPHC; Bị bắt, tạm giam: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2023 cho đến nay; Có mặt.

Bị hại: Cháu Trần Thị Mỹ D1, sinh năm 2020.

Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp A, thị trấn M, huyện C, tỉnh H. Vắng mặt

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trịnh Thị Trúc L1. Trợ giúp viên hạng III – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thái N, sinh năm 1995.

Địa chỉ: ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh H. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 20 phút ngày 12/8/2023, Công an thị trấn M, huyện C, tỉnh H tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của chị Nguyễn Thị Minh H1 về việc: Khoảng 08 giờ ngày 12/8/2023, con ruột chị H1 tên Trần Thị Mỹ D1 (sinh ngày 09/10/2020) đang ngồi chơi trước sân nhà tại ấp A, thị trấn M, huyện C, tỉnh H thì có một đối tượng đi đến gỡ lấy sợi dây chuyền vàng loại 15k, dạng dây lật xoắn, trọng lượng 4 phân 8 ly của D1 đang đeo trên cổ rồi bỏ đi.

Qua trình điều tra xác định: Lê Út D, sinh năm 1979 là đối tượng không nghề nghiệp ổn định. Vào khoảng 08 giờ ngày 12/8/2023, Lê Út D đi từ nhà trọ của ông Phạm Văn H2 toạ lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh H đến chợ M thuộc ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh H để chơi, khi đi ngang nhà chị H1 phát hiện cháu D1 và cháu Đ (sinh năm 2019) đang chơi trước cửa nhà không ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là sợi dây chuyền vàng D1 đang đeo trên cổ. Lúc này, D nhìn xung quanh thấy không có ai, D nhanh chóng đi vào sân nhà chỗ D1 và Đ đang chơi, D đưa tay gỡ lấy sợi dây chuyền vàng D1 đang đeo trên cổ, đồng thời nói “cho chú mượn chiều chú trả”. Sau khi lấy được sợi dây chuyền vàng, D nhanh chóng bỏ đi, rồi đem sợi dây chuyền vàng đến tiệm V, tại ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh H gặp anh Lê Thái N bán sợi dây chuyền vàng được 1.720.000 đồng. Khi nhận tiền xong, D đem về nhà trọ cất giữ, chưa sử dụng. Sau đó, Công an thị trấn M mời Lê Út D đến làm việc thì D thừa nhận toàn bộ hành vi như trên, đồng thời giao nộp số tiền 1.720.000 đồng là tiền bán vàng để trả lại cho bị hại.

Công an thị trấn M xác định hành vi của Lê Út D là Trộm cắp tài sản nên đã tham mưu cho UBND thị trấn M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 172/QĐ-XPHC vào ngày 11/9/2023, xử phạt Lê Út D số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Sau khi tiến hành kiểm tra lại việc xử phạt hành chính đối với Lê Út D. Ngày 04/12/2023, UBND thị trấn M ra Quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Út D và chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Út D về hành vi Cướp giật tài sản. Ngày 14/12/2023, UBND thị trấn M đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-HB về việc huỷ bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 172/QĐ-XPHC ngày 11/9/2023 đối với Lê Út D.

Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-ĐGTS ngày 03/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C kết luận định giá tài sản trong vụ Cướp giật tài sản, xảy ra ngày 12/8/2023 tại ấp A, thị trấn M, huyện C, tỉnh H, có giá trị là 1.752.000 đồng (bút lục 81-82).

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được sợi dây chuyền vàng do sau khi mua vàng, tiệm V đã nấu chung với vàng tại tiệm để chế tạo lại sản phẩm khác (bút lục 12-13).

Về phần dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Thị Mỹ D1 đã nhận số tiền 1.720.000 đồng do Lê Út D giao nộp. Hiện tại bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-HCTA ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố Lê Út D về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định Điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị áp dụng:

Điểm g Khoản 2 Điều 171; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Út D từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 22/12/2023.

Về tang vật chứng: Không có vật chứng cần xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Án phí buộc bị cáo chịu theo quy định.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại phát biểu: Thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo Lê Út D. Do người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại giá trị của tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên không thể phát biểu yêu cầu nào mới.

Bị cáo đã khai nhận về hành vi của mình như nội dung nêu trên và xin Toà xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ và sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 292 của Bộ Luật tố tụng hình sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Lê Út D khai nhận hành vi của mình như Cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định như sau:

Vào khoảng 8 giờ ngày 12/8/2023 tại ấp A, thị trấn M, huyện C, tỉnh H, Lê Út D khi phát hiện cháu Trần Thị Mỹ D1 đang chơi trong nhà không có người trông coi nên đã nhanh chóng đi vào gỡ lấy sợ dây chuyền vàng loại 15k, trọng lượng 04 phân 08 ly đeo trên cổ cháu D1 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó Lê Út D đến tiệm V bán sợi dây chuyền được số tiền 1.720.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Hành vi của Lê Út D đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, Lê Út D là người đã trưởng thành có đầy đủ khả năng nhận thức về hành vi. Do đó hành vi của bị cáo đã thực hiện phạm tội Cướp giật tài sản theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Đối với Lê Thái N có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tuy nhiên, N không biết sợi dây chuyền mà Lê Út D đem bán do phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Thái N là có căn cứ.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tự giao nộp lại số tiền có được từ việc bán sợ dây chuyền vàng để trả lại cho người bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét về tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Út D có nhân thân xấu, năm 2020 bị Ủy ban nhân dân thị trấn M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, với bản chất lười lao động, bị cáo đã lợi dụng sự nhận thức chưa đầy đủ của cháu D1 để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, đối với tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì cần phải có hình phạt nghiêm là phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tuy nhiên khi lượng hình có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về vật chứng: Không có vật chứng cần xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề để xem xét.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều, Khoản, Đ1; tội danh; mức hình phạt; án phí... là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về phát biểu của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Út D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
    Áp dụng Đ1 g Khoản 2 Điều 171; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Út D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 22/12/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 23/4/2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Không có vật chứng cần xử lý.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/4/2024. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Mẫn

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang,
  • VKSND huyện Châu Thành A;
  • VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Đội CSTHAHS và HTTPCông an huyện Châu Thành A;
  • - Đội CSĐTTP về TTXH Công an huyện Châu Thành A;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • -Lưu HS.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger