|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2024/DS-ST Ngày 24/5/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Chấn
2. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 116/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc Tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-DS ngày 28/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2024/QÐST-DS ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Thế N, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt) và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Hoa M, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Dương Văn Q, Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Lô A LK C, Khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là anh Đỗ Thế N trình bày:
Vào tháng 01 năm 2023, qua anh C thì anh có được biết anh Nguyễn Văn S có thửa đất muốn bán có diện tích là 1.875m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 118203 ngày 04/10/2000 mang tên hộ ông Nguyễn Văn N1 (ngày 08/8/2014 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L đã điều chỉnh tại trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho anh Nguyễn Văn S và chị Đoàn Hoa M theo hợp đồng tặng cho); thửa đất có địa chỉ tại thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Do có nhu cầu mua đất nên anh cùng anh C đã đến hỏi mua thửa đất trên của anh Nguyễn Văn S. Sau khi thỏa thuận thì hai bên đã thống nhất anh S bán thửa đất trên cho anh với giá 500.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận anh sẽ đặt cọc cho anh S số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 15 ngày kể từ ngày 21/01/2023 đến ngày 04/02/2023. Trong thời gian 15 ngày thì anh Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng cho anh thửa đất trên. Tuy nhiên, hết thời gian 15 ngày thì giữa anh S và anh không thực hiện được hợp đồng đặt cọc trên. Nguyên nhân do phía anh S chưa hoàn thiện được thủ tục để chuyển nhượng cho anh. Khi ký kết hợp đồng đặt cọc thì chỉ có anh và anh S cùng ký với nhau, ngoài ra có anh C là người làm chứng. Còn chị M là vợ anh S không ký kết hợp đồng vì theo anh được biết thời điểm đó anh S và chị M đã ly hôn. Anh xác định số tiền đặt cọc này anh chỉ đặt cọc cho một mình anh S, không liên quan đến chị M là vợ cũ của anh S, cũng không liên quan đến chị H là vợ hiện nay của anh S, nên anh chỉ yêu cầu một mình anh S phải trả cho anh số tiền này.
Tiếp theo, tháng 3 năm 2023, anh được biết anh S có thửa đất số 223, có diện tích 72m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00249 mang tên anh Nguyễn Văn S, anh S muốn bán thửa đất này. Anh đã được anh C giới thiệu đến hỏi mua thửa đất trên của anh Nguyễn Văn S. Sau khi thỏa thuận thì hai bên đã thống nhất anh S bán thửa đất trên cho anh với giá 500.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận anh sẽ đặt cọc cho anh S số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 30 ngày kể từ ngày 28/3/2023 đến ngày 28/4/2023. Trong thời gian 30 ngày thì anh Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng cho anh thửa đất trên. Tuy nhiên, hết thời gian 30 ngày thì anh S không thực hiện việc chuyển nhượng cho anh thửa đất trên. Nguyên nhân tại sao anh S chưa chuyển nhượng cho anh N thì anh cũng không được biết. Khi ký kết hợp đồng đặt cọc này thì có anh, anh S và chị H (chị H là vợ anh S) cùng ký kết hợp đồng đặt cọc, ngoài ra có anh C là người làm chứng. Anh xác định số tiền đặt cọc này là do anh S và chị H cùng nhận và cùng ký hợp đồng đặt cọc nên anh yêu cầu anh S và chị H cùng có trách nhiệm phải trả lại cho anh số tiền này.
Toàn bộ số tiền anh đặt cọc cho anh S là tiền của vợ chồng anh, tuy nhiên chỉ có một mình anh đứng ra thỏa thuận và ký kết hợp đồng đặt cọc với anh S, vợ anh là chị Nguyễn Thị V không được biết và không tham gia. Vì vậy, anh yêu cầu anh S và chị H có trách nhiệm trả cho một mình anh toàn bộ số tiền anh đã đặt cọc, đề nghị Tòa án không triệu tập vợ anh tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Sau đó, đã rất nhiều lần anh yêu cầu anh S thực hiện việc chuyển nhượng cho anh hai thửa đất trên nhưng anh S vẫn chưa hoàn thiện thủ tục để chuyển nhượng cho anh. Anh gọi điện nhưng anh S không nghe, anh đến nhà thì không gặp anh S.
Trường hợp, nếu anh S đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho anh hai thửa đất trên thì anh vẫn đồng ý nhận chuyển nhượng. Ngoài 2 hợp đồng đặt cọc này thì giữa anh và anh S, chị H không ký kết với nhau hợp đồng nào khác.
Nay, anh khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc một mình anh S phải trả cho anh số tiền 350.000.000 đồng anh đã đặt cọc đối với hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 và số tiền phạt cọc là 350.000.000 đồng. Tổng cộng là 700.000.000 đồng.
- Buộc anh S và chị H phải trả cho anh số tiền 400.000.000 đồng anh đã đặt cọc đối với hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 và số tiền phạt cọc là 400.000.000 đồng. Tổng cộng là 800.000.000 đồng.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2025 anh Đỗ Thế N trình bày: Anh đã làm đơn khởi kiện anh Nguyễn Văn S về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, giữa anh và anh S đã thống nhất với nhau về bản chất việc đặt cọc là để anh cho anh S vay số tiền 750.000.000 đồng.
Ngày 05/03/2024, anh đã làm đơn khởi kiện bổ sung về việc anh đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn S phải trả cho anh số tiền nợ gốc là 750.000.000 đồng và số tiền nợ lãi là 71.785.000 đồng.
Ngày 12/3/2024, tại phiên hòa giải do Tòa án nhân dân huyện Lục Nam tiến hành thì giữa anh và anh Nguyễn Văn S đã thống nhất hiện nay anh S còn nợ anh tổng số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng và nợ lãi là 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, giữa hai bên không thỏa thuận được về thời gian thanh toán.
Nay, anh đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 giữa anh Nguyễn Văn S và anh là Đỗ Thế N và hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 giữa anh anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H và anh là Đỗ Thế Nhất 1 vô hiệu.
- Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là: Buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả cho anh tổng số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng và tổng số tiền lãi suất là 50.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 600.000.000 đồng.
- Anh đề nghị Tòa án tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như anh đã đề nghị.
Anh đã được nghe Tòa án giải thích về việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, anh tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải bồi thường thiệt hại cho anh mà anh chỉ đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả cho anh tổng số tiền là 600.000.000 đồng.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/5/2025 anh Đỗ Thế N trình bày:
Ngày 24/4/2024, anh Nguyễn Văn S đã trả cho anh được tổng số tiền là 500.000.000 đồng. Anh đã có đơn đề nghị Tòa án hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Nay, anh đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 giữa anh Nguyễn Văn S và anh là Đỗ Thế N và hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 giữa anh anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H và anh là Đỗ Thế Nhất 1 vô hiệu.
- Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là: Buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả cho anh tổng số tiền là 100.000.000 đồng.
Ngoài ra anh Đỗ Thế N không còn yêu cầu nào khác.
* Theo biên bản ghi lời khai tại hồ sơ, bị đơn là anh Nguyễn Văn S trình bày:
Do có nhu cầu cần tiền để đổi sổ tại Ngân hàng nên tháng 01/2023 anh có hỏi vay anh N số tiền 350.000.000 đồng, anh N đã đồng ý cho anh vay số tiền 350.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn vay nhưng có thỏa miệng với nhau về lãi suất là 1%/ 1 tháng và không lập biên bản vay tiền với nhau.
Để làm tin cho việc anh vay anh N số tiền 350.000.000 đồng thì giữa anh và anh N có thỏa thuận hai bên cùng nhau ký kết hợp đồng đặt cọc. Ngày 21/01/2023, giữa anh và anh N đã ký kết hợp đồng đặt cọc đối với thửa đất có diện tích là 1.875m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 118203 ngày 04/10/2000 mang tên hộ ông Nguyễn Văn N1 (ngày 08/8/2014 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L đã điều chỉnh tại trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho anh Nguyễn Văn S và chị Đoàn Hoa M theo hợp đồng tặng cho); thửa đất có địa chỉ tại thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại hợp đồng đặt cọc có ghi: Hai bên đã thống nhất anh bán thửa đất trên cho anh N với giá 500.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận anh N sẽ đặt cọc cho anh số tiền 350.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 15 ngày kể từ ngày 21/01/2023 đến ngày 04/02/2023. Trong thời gian 15 ngày thì anh phải có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng cho anh N thửa đất trên. Tại hợp đồng đặt cọc này có anh và anh N cùng ký, ngoài ra có anh C là người làm chứng. Giữa anh và chị M đã ly hôn từ năm 2014, việc ký kết hợp đồng đặt cọc này không liên quan gì đến chị M.
Đến tháng 03 năm 2023, do anh tiếp tục có nhu cầu cần tiền để đổi sổ Ngân hàng nên anh có tiếp tục hỏi vay của anh N số tiền 400.000.000 đồng, anh N đã đồng ý cho anh vay số tiền 400.000.000 đồng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn vay nhưng có thỏa miệng với nhau về lãi suất là 1%/ 1 tháng và không lập biên bản vay tiền với nhau.
Để làm tin cho việc anh vay anh N số tiền 400.000.000 đồng thì giữa anh và anh N có thỏa thuận hai bên cùng nhau ký kết hợp đồng đặt cọc. Ngày 28/3/2023, giữa vợ chồng anh và anh N đã ký kết hợp đồng đặt cọc đối với thửa đất số 223, có diện tích 72m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00249 mang tên chị Nguyễn Thị H; địa chỉ thửa đất ở thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại hợp đồng đặt cọc có ghi: hai bên đã thống nhất anh S bán thửa đất trên cho anh với giá 500.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận anh sẽ đặt cọc cho anh S số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 30 ngày kể từ ngày 28/3/2023 đến ngày 28/4/2023. Trong thời gian 30 ngày thì anh phải có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng cho anh thửa đất trên. Tại hợp đồng đặt cọc này có vợ chồng anh và anh N cùng ký, ngoài ra có anh C là người làm chứng, thửa đất này mang tên vợ anh là Nguyễn Thị H nhưng thực chất là tài sản chung của vợ chồng anh.
Như vậy, tổng hai lần anh vay của anh N số tiền nợ gốc là 750.000.000 đồng. Từ tháng 3 đến nay anh chưa trả được tiền cho anh N vì lý do hiện nay công việc làm ăn của anh gặp khó khăn.
Kể từ ngày ký giấy hợp đồng đặt cọc thì anh có trả cho anh N được mấy tháng tiền lãi, cụ thể số tiền là bao nhiêu thì anh không nhớ, trả được mấy tháng anh cũng không nhớ. Anh thanh toán trả bằng thức chuyển khoản cho anh N theo số tài khoản của anh Đỗ Thế N, sinh năm 1977, địa chỉ: Phố B, TT Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang tại ngân hàng V1 số [...]. Anh đã thanh toán trả được cụ thể bao nhiêu anh sẽ cung cấp cho Tòa án sau. Anh khẳng định anh vay tiền của anh N chứ không phải ký hợp đồng đặt cọc. Do đó, anh N yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc anh không đồng ý. Anh đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng đặt cọc giữa anh và anh Nhất là vô hiệu, anh đồng ý trả tiền đã vay cho anh N và tiền lãi chậm thanh toán của khoản tiền vay này. Anh và chị Đoàn Hoa M, sinh năm 1990 ly hôn năm 2014, hiện chị M đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn ở.
Ngoài ra anh Nguyễn Văn S không có thêm ý kiến gì.
* Theo biên bản ghi lời khai tại hồ sơ, bị đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Việc anh S trình bày chị đã được chứng kiến. Chị đồng ý với lời trình bày của anh S. Chị xác định vợ chồng chị vay tiền của anh N chứ không phải là hợp đồng đặt cọc. Chị đồng ý thanh toán tiền vay cho anh Nhất là 750.000.000 đồng tiền nợ gốc và tiền lãi của khoản tiền vay theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2024, chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị đã nhận được Thông báo kết quả hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam. Theo đó, tại phiên tòa giải ngày 12/3/2024, giữa chồng chị là anh Nguyễn Văn S và anh Đỗ Thế N đã thống nhất là hiện nay vợ chồng chị có nghĩa vụ phải trả cho anh N số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng và tiền nợ lãi là 50.000.000 đồng, tổng số tiền chị và anh S còn nợ anh Nhất là 600.000.000 đồng. Việc anh Nguyễn Văn S và anh Đỗ Thế N thỏa thuận về tổng số tiền nợ này thì chị hoàn toàn nhất trí và không có ý kiến gì.
Ngoài ra, chị Nguyễn Thị H không có ý kiến nào khác.
* Theo biên bản ghi lời khai tại hồ sơ, bị đơn là chị Đoàn Hoa M trình bày:
Chị và anh S kết hôn năm 2012, đến tháng 8/2014 do có mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị giải quyết ly hôn. Sau khi ly hôn, chị đưa con về thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn sinh sống từ đó đến nay.
Đối với vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc liên quan đến anh Nguyễn Văn S, chị có ý kiến như sau: Về việc anh S có sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S118203 đã được UBND huyện L cấp ngày 04/10/2000 và mang tên hộ ông Nguyễn Văn N1 là bố đẻ anh S. Ngày 08/8/2014, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đã được tặng cho anh S và chị, anh S sử dụng vào việc đặ cọc với ai, cụ thể như thế nào thì chị không được biết, anh S không liên lạc cũng như không bàn bạc gì với chị.
Nay Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc liên quan đến anh S thì chị không có yêu cầu gì, chị cũng không đề nghị gì. Toàn bộ sự việc này không liên quan đến chị.
Ngoài ra, chị Đoàn Hoa M không có ý kiến nào khác.
Ngày 26/12/2023, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ngày 12/3/2024, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam mở phiên tòa, anh Đỗ Thế N có đơn xin hoãn phiên tòa, anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không có lý do, chị Đoàn Hoa M có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 24 tháng 5 năm 2024, anh Đỗ Thế N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, chị Đoàn Hoa M có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Điều 124, Điều 328, Điều 385 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Đỗ Thế N, tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S và hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H là vô hiệu. Buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải trả cho anh N tổng số tiền là 100.000.000 đồng.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau nghe khi ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là anh Đỗ Thế N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đoàn Hoa M có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn S có địa chỉ cư trú tại xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H đã ký kết hợp đồng đặt cọc hai lần với tổng số tiền là 750.000.000 đồng. Vì vậy, tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự.
[4] Về nội dung vụ án:
[4.1] Ngày 21/01/2023, anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S có ký hợp đồng đặt cọc với số tiền 350.000.000 đồng để chuyển nhượng đối với thửa đất có diện tích là 1.875m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 118203 ngày 04/10/2000 mang tên hộ ông Nguyễn Văn N1 (ngày 08/8/2014 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L đã điều chỉnh tại trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho anh Nguyễn Văn S và chị Đoàn Hoa M theo hợp đồng tặng cho); thửa đất có địa chỉ tại thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh N đã đặt cọc số tiền 350.000.000 đồng cho anh S và hẹn thời hạn đặt cọc là 15 ngày (kể từ ngày 21/01/2023) anh S phải làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng thửa đất trên cho anh N. Tuy nhiên, đến nay anh S vẫn chưa làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng thửa đất trên cho anh N.
Ngày 28/3/2023, anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H có ký hợp đồng đặt cọc với số tiền 400.000.000 đồng để chuyển nhượng đối với thửa đất số 223, có diện tích 72m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00249 mang tên chị Nguyễn Thị H; địa chỉ thửa đất ở thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Anh N đã đặt cọc số tiền 400.000.000 đồng cho anh S, chị H và hẹn thời hạn đặt cọc là 30 ngày (kể từ ngày 28/3/2023) anh S, chị H phải làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng thửa đất trên cho anh N. Tuy nhiên, đến nay anh S, chị H vẫn chưa làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng thửa đất trên cho anh N.
Tại phiên hòa giải ngày 12/3/2024, anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S đã thỏa thuận về việc anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H phải trả cho anh Đỗ Thế N tổng số tiền là 600.000.000 đồng.
Ngày 24/4/2024, anh Nguyễn Văn S đã trả cho anh Đỗ Thế N tổng số tiền là 500.000.000 đồng.
Nay, anh Đỗ Thế N đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S và hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H là vô hiệu. Buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải trả cho anh N tổng số tiền là 100.000.000 đồng.
[4.2] Xét yêu cầu trả lại tiền đặt cọc 100.000.000 đồng của anh Đỗ Thế N thì thấy:
Căn cứ Hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 giữa bên bán là anh Nguyễn Văn S và bên mua là anh Đỗ Thế N về việc chuyển nhượng thửa đất có diện tích là 1.875m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 118203 ngày 04/10/2000 mang tên anh Nguyễn Văn S và chị Đoàn Hoa M; địa chỉ thửa đất ở thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh N đặt cọc số tiền 350.000.000 đồng cho anh S.
Căn cứ Hợp đồng đặt cọc 28/3/2023 giữa bên bán là anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H và bên mua là anh Đỗ Thế N về việc chuyển nhượng thửa đất số 223, có diện tích 72m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00249 mang tên chị Nguyễn Thị H; địa chỉ thửa đất ở thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Anh N đặt cọc số tiền 400.000.000 đồng cho anh S, chị H.
Anh S thừa nhận việc giữa anh và anh N có ký kết hai hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 và 28/3/2023 và anh S có nhận của anh N tổng số tiền đặt cọc cả hai lần là 750.000.000 đồng. Chị H thừa nhận chị cùng anh S có ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 và anh chị có nhận của anh N số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng.
Căn cứ vào sự thỏa thuận của anh N và anh S, chị H về việc bản chất của việc ký kết hai hợp đồng đặt cọc trên là để đảm bảo cho việc anh S, chị H vay của anh N tổng số tiền là 750.000.000 đồng. Anh N và anh S, chị H thỏa thuận tổng số tiền anh S, chị H phải trả cho anh Nhất là 600.000.000 đồng.
Nay, anh Đỗ Thế N đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S và hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H là vô hiệu. Buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải trả cho anh N tổng số tiền là 600.000.000 đồng thì anh S, chị H đồng ý.
Xét thấy: Việc các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là tự nguyện, không ai ép buộc, phù hợp pháp luật nên cần cấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy việc giữa anh S và anh N có ký kết hai hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 để anh S nhận của anh N số tiền đặt cọc là 350.000.000 đồng và việc giữa anh S, chị H và anh N có ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 để anh S, chị H nhận của anh N số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng là để che giấu cho việc anh S, chị H vay của anh N tổng số tiền 750.000.000 đồng. Do vậy, hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 và hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự.
Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Đỗ Thế N đối với anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H về việc buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H tổng số tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng là phù hợp. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H đã trả cho anh Đỗ Thế N số tiền 500.000.000 đồng nên cần buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải trả tiếp cho anh Đỗ Thế N số tiền là 100.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Do yêu cầu của anh Đỗ Thế N được chấp nhận, nên anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu và 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu (anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải trả anh Đỗ Thế N số tiền 100.000.000 đồng).
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điều 124, Điều 328, Điều 385 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Thế N, tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 21/01/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S và hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2023 giữa anh Đỗ Thế N và anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H là vô hiệu. Buộc anh Nguyễn Văn S và chị Nguyễn Thị H phải trả cho anh N tổng số tiền là 100.000.000 đồng.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị H phải chịu 5.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Đỗ Thế N 28.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai thu số 0000749 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc O |
Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 18/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Đỗ Văn N khởi kiện anh Nguyễn Văn S
