Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Khánh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Ánh và ông Phùng Hải Thủy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/HSST, ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Thị Quý X; sinh ngày 02/9/1983, tại: tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: khu phố E, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hồ T, sinh năm 1946. Hiện trú tại thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Con bà: Nguyễn Thị T1 (đã chết); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ năm; Chồng: Nguyễn Đăng M, sinh năm 1981. Hiện trú tại khu phố E, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; con: Nguyễn Đăng B, sinh năm 2011. Hiện trú tại khu phố E, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Tiền án: Không

Tiền sự: Không.

Bị cáo Hồ Thị Quý X bị bắt tạm giam từ ngày 10/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1971, trú tại: Khu phố E, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Mai Thị H, sinh năm 1982; Trú tại: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Bà Trần Thị Ngọc B1, sinh năm 1988; Trú tại: Khu phố C, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Đăng M, sinh năm 1981; Trú tại: Khu phố E, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Ông Hồ Sỹ H1, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân không có khả năng chi trả nhiều khoản nợ cá nhân nên Hồ Thị Quý X đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi đặt mua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả rồi sử dụng nhằm mục đích vay mượn tiền của người khác để chiếm đoạt trả nợ. Cụ thể:

Ngày 08/7/2023 X sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6, đăng nhập tài khoản facebook “Heosusi” tìm kiếm trên trang mạng xã hội địa chỉ làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, X sử dụng tài khoản zalo đăng ký số điện thoại 0963.602.xxx nhắn tin cho số điện thoại có tên zalo Mt D đặt mua 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với giá 1.600.000 đồng theo thông tin X cung cấp.

Ngày 13/7/2023, có một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến nhà của X giao cho X 02 tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả có thông tin như X yêu cầu, cụ thể:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 233560, thửa đất số: 237, tờ bản đồ số: 14, mang tên ông: Nguyễn Đăng M, sinh năm: 1981, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị và bà Hồ Thị Quý X, sinh năm: 1983, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị ghi do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 08/07/2023, số vào sổ cấp GCN: CS02856.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 431683, thửa đất số: 191, tờ bản đồ số: 04, mang tên bà: Hồ Thị Quý X, sinh năm: 1983, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 24/2/2022, số vào sổ cấp GCN: CH18512.

X nhận và thanh toán bằng tiền mặt rồi cất giấu tại nhà của X.

Ngày 10/8/2023 X đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CS 431683 đến cầm cố cho chị Mai Thị H (hiện trú tại: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị) vay số tiền 150.000.000 đồng với mục đích giải quyết công việc cá nhân trong thời gian từ ngày 10/8/2023 đến ngày 30/8/2023, với lãi suất 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Sau khi nhận được tiền vay, X sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 30/8/2023, X xin chị H gia hạn thời hạn trả nợ thì được chị H đồng ý. Đến ngày 04/9/2023, chị H cần tiền nên yêu cầu X trả tiền cho mình.

Vì biết bản thân không có khả năng trả nợ cho chị H nên ngày 04/9/2023 X đến nhà bà Nguyễn Thị G (trú tại: Khu phố E, Phường C, thành phố Đ) đưa ra thông tin gian dối rằng: X muốn vay 200.000.000 đồng (không thỏa thuận lãi suất), sau 01 ngày sẽ trả ngay (hạn vay từ ngày 04/9/2023 đến 05/9/2023) để nhằm mục đích đáo hạn Ngân hàng. Để cũng cố thêm lòng tin với bà G về khả năng trả nợ, X cầm cố cho bà G 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CQ 233560. Vì tin tưởng mục đích vay mượn tiền và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 233560 mà X đưa ra là thật nên bà G đồng ý cho X vay tiền. Tuy nhiên, bà G yêu cầu anh Nguyễn Đăng M (sinh năm: 1981, chồng của X) phải cùng ký giấy vay hoặc xác nhận qua điện thoại cho bà G về khoản vay của X. Theo yêu cầu của bà G, X đã điện thoại nói dối với anh M rằng: X đã rút được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hai vợ chồng thế chấp tại Ngân hàng, nay cần vay tiền gấp để đầu tư làm ăn nên đề nghị Minh xác nhận khoản vay với bà G. Vì tin tưởng thông tin X đưa ra là thật, muốn hỗ trợ vợ làm ăn nên anh M đã điện thoại cho bà G xác nhận nội dung vay tiền. Sau khi nhận được tiền cho vay của bà G, X tất toán khoản vay với chị H, nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CS 431683 và thanh toán nhiều khoản tiền cầm cố tài sản, chi tiêu cá nhân khác của X.

Đến khoảng 19 giờ ngày 05/9/2023, X tiếp tục liên lạc qua ứng dụng zalo với chị Trần Thị Ngọc B1 (trú tại: Khu phố C, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị) hỏi vay tiền. Do trước đó chị B1 có nghe thông tin việc X đang sử dụng 02 cuốn sổ đỏ đi lừa vay tiền nên chị B1 yêu cầu X đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nhà để kiểm tra. Đến 21 giờ ngày 05/9/2023, X đến nhà chị B1 và giao cho chị B1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 431683 thửa đất số: 191, tờ bản đồ số: 04, mang tên bà: Hồ Thị Quý X, sinh năm: 1983, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 24/2/2022, số vào sổ cấp GCN: CH18512. Sau khi kiểm tra, chị B1 nghi ngờ là sổ giả nên hỏi X thì X thừa nhận là giả nên chị B1 không cho X vay tiền mà giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 431683 sau đó giao nộp cho cơ quan Công an.

Hết thời hạn vay tiền với bà GX không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên bà G liên tục đòi nợ và nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 233560 mà X sử dụng cầm cố cho bà G là giả. Ngày 09/9/2023 bà G sử dụng tài khoản facebook Nguyễn G đăng tải nội dung tố cáo Hồ Thị Quý XNguyễn Đăng M có hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, ngày 10/9/2023 Hồ Thị Quý X mượn của anh Trần Viết C (trú tại: Khu phố B, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị) 20.000.000 đồng để trả trước cho bà G và nhắn tin xin bà G gỡ bài đăng trên mạng xã hội nhưng bà G không chấp nhận. Đến ngày 12/9/2023 bà G tố giác hành vi của Hồ Thị Quý XNguyễn Đăng M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ. Ngày 27/10/2023 chị Trần Thị Ngọc B1 đến Cơ quan điều tra giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 431683.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Hồ Thị Quý X đã chủ động khắc phục hậu quả cho bà Nguyễn Thị G số tiền 20.000.000 đồng và tác động gia đình bồi thường cho bà G. Sau khi bị phát hiện về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” để

chiếm đoạt tài sản của bà G, X đã tự nguyện khai nhận về hành vi sử dụng tài liệu giả để vay tiền của bà Mai Thị H vào ngày 10/8/2023. Bà Nguyễn Thị G có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”.

Ngày 29/9/ 2023, Phòng K Công an tỉnh Q ra Bản kết luận giám định số: 955/KLGĐ-KTHS xác định:

Mẫu in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 233560 mang tên ông: Nguyễn Đăng M, sinh năm: 1981, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị và bà Hồ Thị Quý X, sinh năm: 1983, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị ghi do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 08/07/2023, số vào sổ cấp GCN: CS02856 là mẫu in giả.

Ngày 03/11/2023 Phòng K Công an tỉnh Q ra Bản kết luận giám định số: 1082/KLGĐ-KTHS xác định: Mẫu in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 431683, thửa đất số: 191, tờ bản đồ số: 04, mang tên bà: Hồ Thị Quý X, sinh năm: 1983, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 24/2/2022, số vào sổ cấp GCN: CH18512 là mẫu in giả.

Tại bản cáo trạng số: 39/VKSĐH ngày 26/3/2024 của VKSND thành phố Đông Hà đã truy tố Hồ Thị Quý X về các tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại khoản 3 điều 174 Bộ luật hình sự và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 4 năm 6 tháng đến 5 năm tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng điểm b, khoản 3 Điều 341, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 3 năm đến 3 năm 6 tháng về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

Về Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 thẻ sim điện thoại di động vinaphone có số seri 898402000, 11184374757, có số thuê bao: 0963602777.

- Đối với 01 giấy mượn tiền giữa bên mượn là Hồ Thị Quý X và bên cho mượn là Mai Thị H; 01 tờ giấy có hình thức, nội dung, hình dấu, chữ ký của người có thẩm quyền giống Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp, có ghi thông tin người sử dụng đất là: Nguyễn Đăng M (sinh năm: 1981, CCCD số: [...]) và bà Hồ Thị Quý X (sinh năm: 1983, CCCD số: [...]), số

vào sổ cấp GCN: CS02856, cấp ngày 08 tháng 07 năm 2023; 01 thiết bị lưu dữ liệu điện tử màu đen, mặt ngoài có dòng chữ Lexar 32G, có chứa 01 file ghi âm tên “minh xuân (1).m4a”, dung lượng: 1.059 KB; 01 bản phô tô giấy vay tiền giữa Hồ Thị Quý XNguyễn Thị G; 01 tờ giấy có hình thức, nội dung, hình dấu, chữ ký của người có thẩm quyền giống Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp, có ghi thông tin người sử dụng đất là: Bà Hồ Thị Quý X (sinh năm: 1983, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị), số vào sổ cấp GCN: CH18512, cấp ngày 24 tháng 2 năm 2022. Đây là những chứng cứ trong vụ án nên được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Nguyễn Thị G đã được bị cáo và gia đình hoàn trả số tiền 200.000.000 đồng, bồi thường 10.000.000 đồng nên không yêu cầu về dân sự.

Về án phí: Bị cáo Hồ Thị Quý X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có tranh luận gì, chỉ xin HĐXX xem xét, chiếu cố giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận Hồ Thị Quý X do không có tiền chi trả nhiều khoản nợ đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi đặt mua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả rồi sử dụng nhằm mục đích vay mượn tiền của người khác để chiếm đoạt. Vào ngày 04/9/2023, X đã đưa ra thông tin gian dối cần tiền để đáo hạn ngân hàng, vay bà Nguyễn Thị G số tiền 200.000.000 đồng và để lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CQ 233560, sau đó X đã chiếm đoạt số tiền trên để trả nợ và chi trả tiền cá nhân.

Tại quá trình điều tra, Hồ Thị Quý X có 02 lần khác sử dụng các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả là những tài liệu giả của cơ quan tổ chức để thực hiện hành vi cầm cố vay tiền khác. Tuy nhiên, đối với khoản vay số tiền 150.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị H2, hai bên có thỏa thuận thời hạn trả nợ và X đã trả đúng hẹn cho

H2. Việc X sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mục đích là để đảm bảo khoản vay 150.000.000 đồng, đến khi hết thời hạn vay đã trả lại tiền cho chị H2 nên không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đối với hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để đến nhà chị Trần Thị Ngọc B1 vay số tiền 200.000.000 đồng. Hai bên chưa thống nhất thỏa thuận cho vay, bản thân chị B1 cũng đã được biết thông tin X đang nợ nần và có hành vi làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chị B1 đã không cho X vay. Vì vậy không xem xét hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bởi X chỉ mới sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa làm cho bị hại tin tưởng để chiếm đoạt tài sản.

Do đó, đối với 02 lần này X không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và chị chịu trách nhiệm hình sự đối với 03 lần thực hiện hành vi “sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” trong đó có 01 lần sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng.

Các hành vi của bị caó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Như vậy, hành vi của Hồ Thị Quý X đã đủ yếu tố cấu thành các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo ra xét xử theo các tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật nhưng làm cho người bị lừa dối tin đó là thật và đã giao tài sản cho người phạm tội nhằm mục đích để chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể bị cáo đã có hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả rồi đưa ra thông tin gian dối là đáo hạn ngân hàng để vay của bà Nguyễn Thị G số tiền 200.000.000 đồng sau đó chiếm đoạt.

Ngoài ra bị cáo còn 02 lần khác sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức đó là sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nhằm lừa dối để vay tiền, tuy nhiên chưa đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 hành vi này. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, nhà nước, tổ chức. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo và gia

đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại; mặt khác, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng đối với tội này.

Đối với tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” ngoài tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, trong quá trình điều tra bị cáo đã khai thêm hành vi sử dụng tài liệu giả đối với bà Nguyễn Thị H2 nên cần áp dụng thêm tình tiết tự thú quy định tại điểm r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Do đó, cần xem xét giảm nhẹ đáng kể về hình phạt cho bị cáo theo từng tội danh cụ thể nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, song nhất thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, cải tạo bị cáo.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở các căn cứ quyết định hình phạt như đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và không phạm vào tình tiết tăng nặng. Do đó, áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với tội danh này với mức tương xứng, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật và áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 buộc cách ly bị cáo một thời gian để răng đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của ơ quan, tổ chức”, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ nhưng lại có 01 tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên nên cần cân nhắc mức án phù hợp khung hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 5 điều 174 Bộ luật hình sự phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp hay công việc ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình rất khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Đối với hành vi cho Hồ Thị Quý X vay tiền của bà Nguyễn Thị G, hai bên không có thỏa thuận về lãi suất cho vay. Bà Mai Thị H cho X vay tiền với lãi suất thỏa thuận là 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương lãi suất 36,5%/năm). Vì vậy không xem xét xử lý bà G, bà H về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu giải quyết về dân sự. Anh Hồ Sỹ H1 người trực tiếp bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Thị G số tiền 200.000.000 đồng, anh Trần Văn C1 người cho bị cáo vay số tiền 20.000.000 đồng để trả cho bà G không yêu cầu về dân sự. Đối với anh Nguyễn Đăng M chồng của Hồ Thị Quý X, bản ghi âm thể hiện việc anh M đồng ý với vợ là bị cáo X vay số tiền 200.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị G. Tuy nhiên, anh M không biết việc bị cáo X dùng số đỏ giả để vay tiền, bà G cũng không yêu cầu dân sự đối với anh M nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Quý X phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Hồ Thị Quý X 4 (Bốn) năm 8 (Tám) tháng về Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Áp dụng khoản 3 Điều 341, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sựs, xử phạt Hồ Thị Quý X 3 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, buộc bị cáo Hồ Thị Quý X phải chấp hành hình phạt chung là 7 năm 8 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 thẻ sim điện thoại di động vinaphone có số seri 898402000, 11184374757, có số thuê bao: 0963602777.

- Đối với 01 giấy mượn tiền giữa bên mượn là Hồ Thị Quý X và bên cho mượn là Mai Thị H; 01 tờ giấy có hình thức, nội dung, hình dấu, chữ ký của người có thẩm quyền giống Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp, có ghi thông tin người sử dụng đất là: Nguyễn Đăng M (sinh năm: 1981, CCCD số: [...]) và bà Hồ Thị Quý X (sinh năm: 1983, CCCD số: [...]), số vào sổ cấp GCN: CS02856, cấp ngày 08 tháng 07 năm 2023; 01 thiết bị lưu dữ liệu điện tử màu đen, mặt ngoài có dòng chữ Lexar 32G, có chứa 01 file ghi âm tên “minh xuân (1).m4a”, dung lượng: 1.059 KB; 01 bản phô tô giấy vay tiền giữa Hồ Thị Quý XNguyễn Thị G; 01 tờ giấy có hình thức, nội dung, hình dấu, chữ ký của người có thẩm quyền giống Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp, có ghi thông tin người sử dụng đất là: Bà Hồ Thị Quý X (sinh năm: 1983, CCCD số: [...], địa chỉ thường trú: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị), số vào sổ cấp GCN: CH18512, cấp ngày 24 tháng 2 năm 2022. Đây là những chứng cứ lưu giữu theo hồ sơ vụ án.

(Các vật chứng đang được lưu giữ theo hồ sơ vụ án).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Hồ Thị Quý X phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày nhưng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TP. Đông Hà;
  • - Công an TP. Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP. Đông Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Khánh Phương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Minh Thắng Võ Thị Kim L

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Khánh P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger