Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST

Ngày 13 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

Bà Nguyễn Bé Sáu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cái Nước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Út E, sinh ngày 01/01/1992 tại huyện C, tỉnh Cà Mau.

Nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn P (đã chết) và bà Đoàn Thị X; vợ: Trần Thị T, con: 03 người; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 05/7/2023 bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện C xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 103/QĐ-XPHC (đã nộp phạt xong ngày 20/7/2023); nhân thân (01 tiền án): Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2014/HSST ngày 07/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 03 tháng 21 ngày tù, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, đã nộp xong tiền án phí năm 2014; bị tạm giữ ngày 19/01/2024; bị tạm giam ngày 25/01/2024; đến ngày 09/4/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ông Tăng Văn T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 16/01/2024 Đặng Út E đã lén lút lội xuống vuông của anh Tăng Văn T1 tại ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau đặt lú Huế để bắt trộm tôm, cua, cá trong vuông của anh T1 nhằm bán lấy tiền tiêu xài. Anh T1 phát hiện trong vuông của mình có người đặt lú nên rủ anh Đinh Văn T2, Đặng Khánh L và ông Nguyễn Quốc K cùng rình bắt trộm. Đến khoảng 19 giờ ngày 18/01/2024 Út E đi đến vuông của anh T1, sau khi quan sát xung quanh không có người, Út E lội xuống vuông của anh T1 để dỡ lú đã đặt trước đó.

Út Em lội đến vị trí đặt lú, định dỡ lú để bắt tôm, cua, cá nhưng chưa kịp dỡ lú thì bị ông Khởi phát h, lúc này Út E bơi vào bờ cỏ dưới vuông để lẫn trốn, anh T2 bơi xuồng đến vị trí đặt lú của Út E cuốn lú để lên xuồng, thấy bên trong cái lú có 03 con cua, sau đó anh T1 cùng anh L, T2 và ông K tiếp tục tìm kiếm Út E, đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày thì anh T2 phát hiện Út E, truy hô cùng mọi người đến khống chế, bắt giữ được Út E và trình báo Công an xã H đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Qua điều tra xác định vào ngày 05/7/2023 Đặng Út E bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 103/QĐ-VPHC, Út E đã chấp hành việc nộp phạt vào ngày 20/7/2023 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì Út E tiếp tục vi phạm.

Vật chứng, đồ vật đã tạm giữ gồm:

  • 03 (ba) con cua, tổng trọng lượng 560 gam (trong đó có 01 con cua xô nặng 45 gam, 02 con cua cái thiếu gạch nặng 515 gam);
  • 01 (một) cái lú (loại lú Huế) có hai đầu dùng để bắt tôm, cua, cá; kích thước: Dài 10 mét, rộng 32 cm và cao 23 cm;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu trắng;
  • 01 (một) áo sơ mi đen dài tay, sọc trắng ngang, trên cổ áo có ghi chữ “B.T.H”;
  • 01 (một) cái quần short Jean nam, màu xanh, sau lưng quần có ghi chữ "GEANS".

Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

  • 01 (một) con cua xô nặng 45 gam, còn sống, xác định giá trị là 100%. Được xác định cụ thể như sau: (01 (một) con cua xô) x (trọng lượng 0,045 kg) x 100% x 100.000 đồng = 4.500 đồng.
  • 02 (hai) con cua cái thiếu gạch nặng 515 gam, còn sống, xác định giá trị 100%. Được xác định cụ thể như sau: (02 (hai) con cua cái tổng trọng lượng 0,515 kg) x 100% x 250.000 đồng = 128.750 đồng.

Tổng giá trị tài sản yêu cầu định giá là 133.250 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận lại 03 con cua và không có yêu cầu gì.

2

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Đặng Út E về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Út E từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cái lú (loại lú Huế) có hai đầu để bắt tôm, cua, cá; kích thước thân lú dài 10 mét, rộng 32 cm và cao 23 cm (đã qua sử dụng).

Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo thống nhất với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị hại yêu cầu xử mức án nhẹ cho bị cáo. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng là xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Út E thừa nhận hành vi như sau: Ngày 05/7/2023, Đặng Út E bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện C xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt xong ngày 20/7/2023, chưa được xóa. Đến ngày 18/01/2024 bị cáo Đặng Út E tiếp tục có hành vi lén lút lội xuống vuông của anh Tăng Văn T1 tại ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau dỡ lú Huế đã đặt trước đó để bắt tôm, cua, cá thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 133.250 đồng. Tuy giá trị tài sản trộm cắp (dưới 2.000.000 đồng), nhưng bị cáo Đặng Út E có tiền sự bị phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nên hành vi vi phạm của bị cáo Đặng Út E lần này đã đủ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người chứng kiến sự việc, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra sự việc, kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Đặng Út E đã vi phạm pháp luật hình sự; trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an của địa phương.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đặng Út E có đủ năng lực trách

3

nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Với các yếu tố như đã nêu trên, bị cáo Đặng Út E đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, có căn cứ kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng quy định pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân không tốt, từng có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo bị bệnh nặng bị viêm phổi, suy thận mãn tính, tăng huyết áp; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại T1 không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) cái lú (loại lú Huế) có hai đầu để bắt tôm, cua, cá; kích thước thân lú dài 10 mét, rộng 32 cm và cao 23 cm (đã qua sử dụng).

Đối với điện thoại di động, áo sơ mi và quần short J đã tạm giữ của bị cáo Đặng Út E, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

4

Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Út E phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Đặng Út E 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 đến ngày 09/4/2024.
  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cái lú (loại lú Huế) có hai đầu để bắt tôm, cua, cá; kích thước thân lú dài 10 mét, rộng 32 cm và cao 23 cm (đã qua sử dụng).

    (Số vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/3/2024)

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Út E phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Út E và bị hại T1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Công an huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Hiền

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 18/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Đặng Út E 06 (sáu) tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger