|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 18/2025/DS-PT Ngày 13-3-2025 V/v tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất. |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Minh Phương |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Minh Hạnh Bà Lê Thị Hải Yến |
|
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. |
|
|
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên. |
|
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên (nay là thành phố T), thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 24/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số B L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn:
- Ông Mạc Đình K, sinh năm 1962; có mặt;
- Bà Bùi Thị H, sinh năm 1965; có mặt;
Cùng nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là xã Q, thành phố T).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Mạc Văn H1, sinh năm 1983; vắng mặt;
- Anh Mạc Văn H2, sinh năm 1987; vắng mặt;
Cùng nơi cư trú: Số B L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Mạc Văn H1, anh Mạc Văn H2: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số B L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng (Theo Giấy uỷ quyền ngày 21/3/2024 và ngày 17/4/2024); có mặt;
- Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T); địa chỉ: Số E đường Đ, phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy H3, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nhận ngày 10/7/2023; bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm nguyên đơn – bà Nguyễn Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Mạc Văn H1, anh Mạc Văn H2 thống nhất trình bày:
Bố mẹ chồng của bà T là cụ Mạc Văn N và cụ Nguyễn Thị T1 (chết năm 1988). Cụ N và cụ T1 sinh được 06 người con là ông Mạc Văn C, bà Mạc Thị C1, ông Mạc Văn C2, ông Mạc Đình K, ông Mạc Văn C3 và ông Mạc Văn C4. Chồng của bà T là ông Mạc Văn C2. Vợ chồng bà T có hai người con chung là anh Mạc Văn H1, anh Mạc Văn H2. Ngày 08/11/1990, ông C2 đi công tác, từ đó đến nay không trở về. Ngày 17/7/2018 theo yêu cầu của bà T, Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã ban hành Bản án số 09/2018/QĐDS-ST tuyên bố ông Mạc Văn C2 (ông Mạc Đình C5) đã chết. Ngày chết của ông C5 được xác định là ngày 08/11/1995.
Năm 1991, cụ N chết. Cụ N và cụ T1 chết để lại một khối tài sản gồm: 02 ngôi nhà, 01 ao và diện tích đất 1.202m², tại thửa đất số 440, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn F, C, xã H, huyện T (nay là xã Q, thành phố T, thành phố Hải Phòng). Cụ N và cụ T1 chết, không để lại di chúc nên sau khi các cụ chết (cuối năm 1991), anh em trong gia đình đã thống nhất chia khối tài sản của các cụ để lại. Ông C được phần diện tích đất ao; còn diện tích đất 1.202m² chia đều cho 04 người con là ông C5, ông K, ông C3 và ông C4, mỗi người 252m², trong đó ông C5 chồng của bà T được chia 252m² ở phía sau khu đất (tức là diện tích đất phía sau ngôi nhà cấp 4, hiện đang làm nơi thờ cúng). Riêng ông C3 được chia diện tích đất 252m² và 01 ngôi nhà mái bằng diện tích đất còn lại và ngôi nhà để làm nơi thờ cúng. Việc phân chia tài sản này không được lập thành văn bản. Tuy nhiên, bà T đã đề nghị các anh chị em nhà chồng cho bà T nhận 02 suất đất, 01 suất của ông C5 và 01 suất của ông C3. Lý do: Năm 1989, ông C5 đã lo mọi thủ tục cho ông C3 đi nước ngoài, trước khi đi nước ngoài ông C3 cũng không có tiền nên ông C5 phải đi vay để đưa cho ông C3 500 USD. Phần diện tích đất của ông C3, bà T đã nhượng lại cho vợ chồng ông K, bà H với giá 3.000.000 đồng. Mọi người trong gia đình đều nhất trí với đề nghị của bà T. Thời điểm được chia đất, do mẹ con bà T sinh sống tại nội thành Hải Phòng nên không sử dụng phần diện tích đất mà chồng bà T được phân chia nên bà T đã cho vợ chồng ông K, bà H mượn để trồng trọt. Ông K, bà H có trách nhiệm đóng tiền thuế sử dụng đất. Việc bà T cho vợ chồng ông K, bà H mượn đất không được lập thành văn bản. Sau đó vài năm thì bà T mang 03 chỉ vàng về trả cho ông K, bà H. Nay các con của bà T đã lớn và có gia đình riêng nên bà T có nhu cầu lấy lại diện tích đất ông C5 được chia để sử dụng. Bà T đã nhiều lần nói chuyện với ông K, bà H về việc yêu cầu họ phải trả lại 252m² bà T đã cho mượn nhưng ông K, bà H không đồng ý. Bà T có đơn đề nghị chính quyền địa phương hoà giải nhưng không có kết quả. Hiện ông K, bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích bà T cho mượn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 07/02/2025 (giai đoạn phúc thẩm), bà T trình bày: Đến năm 2019, bà T và ông K thống nhất, bà T sẽ giao cho ông K 25.000.000 đồng (đây là số tiền ông K nộp thuế đất do sử dụng đất của ông C5 được chia). Ông K sẽ trả lại đất mượn cho bà T; gian nhà thờ chung cũ ông K giao cho bà T trước sự chứng kiến của mọi người. Do vậy, bà T và các con của bà T đã mang đồ đạc về sử dụng, cúng giỗ chồng của bà T. Nhưng sau đó vợ chồng ông K không nhận số tiền này và tháo cánh cửa gian thờ. Sau khi báo chính quyền địa phương thì ông K đã lắp lại cánh cửa nhưng đắp đất thành hình ngôi mộ trước cửa để chặn lối đi vào và cho đến nay chưa được giải quyết triệt để.
Nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, bà T khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết: Buộc ông K và bà H phải trả lại cho bà T và hai con của bà T diện tích đất 252m², tại thửa đất số 440, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn F xã H, huyện T. Việc Ủy ban nhân dân huyện T và Ủy ban nhân dân xã H đã tự ý lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho ông K, bà H thì đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản tự khai ngày 23/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, bị đơn – ông Mạc Đình K và bà Bùi Thị H thống nhất trình bày:
Ông K xác nhận bố mẹ đẻ của ông là cụ Mạc Văn N và cụ Mạc Thị T2 sinh được 06 người con như nguyên đơn trình bày. Quá trình chung sống các cụ tạo dựng được khối tài sản chung là thửa đất số 440, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T. Cụ Mạc Thị T2 chết năm 1988, cụ N chết năm 1991. Các cụ chết không để lại di chúc. Tháng 5 năm 1991, sau khi cụ N chết, bà T vợ của ông K yêu cầu chia đất của các cụ. Sau đó, anh em trong gia điình thống nhất chia đất của các cụ để lại thành 05 phần cho 05 người con trai. Con trai cả là ông Mạc Xuân C6, vợ là Phạm Thị P được chia phần ao giáp lối đi và đường làng. Phần đất vườn được chia cho 04 người là ông C5, ông K, ông C3 và ông C4 (chết năm 2002). Ông C5 chồng của bà T được chia phần diện tích đất phía tay trái từ ngõ đi vào, giáp nghĩa địa và nhà ông N1. Thời điểm phân chia đất ông C5 vắng nhà, không biết đi đâu nên bà T đã nhận phần đất ông C5 được chia, diện tích là bao nhiêu mét vuông thì ông K không rõ vì chỉ chia áng chừng. Khi các cụ còn sống thì vợ chồng ông K ở cùng trên thửa đất với các cụ và được các cụ làm nhà cho vợ chồng ông K ở giữa mảnh đất từ năm 1988 nên ông K được chia phần diện tích đất đang ở. Ông C4 có vợ là bà Phạm Thị H4 ở cùng nhà với các cụ. Ông C4 được phân chia phần diện tích đất giáp với ao và lối đi, trên phần đất này có nhà của các cụ và vợ chồng ông C4 đã ở. Hiện tại, bà H4 (vợ của ông C4) cùng các con chung của ông C4, bà H4 đang quản lý và sinh sống tại đó. Còn ông C3 thời điểm đó đi làm ăn xa, không có nhà, được chia phần đất giáp nhà ông K và nhà hàng xóm là bà Nguyễn Thị V. Khi chia đất thì cụ Hoàng Thị K1 (là vợ cả của cụ N, không có con chung với cụ N) vẫn còn sống nên phần đất này do cụ K1 sử dụng. Năm 1994 cụ K1 chết, ông C3 lấy vợ là bà Đoàn Thị L nhưng không ở trên phần đất này nên đã chuyển nhượng lại cho ông K từ năm 1997 với giá 6.000.000 đồng. Phần đất còn lại giáp nhà vợ chồng ông C4, bà H4 và nhà ông K thì anh em trong gia đình thống nhất để lại làm đất hương hoả, giao cho con trai trưởng là vợ chồng ông C6 quản lý, lo cúng giỗ gia tiên. Khi chia đất có mặt các anh em trong gia đình bao gồm: Cụ Hoàng Thị K1, vợ chồng ông C6, bà P; vợ chồng ông K, bà H; bà T vợ của ông C5; vợ chồng bà Mạc Thị C1, ông Bùi Văn H5; vợ chồng ông C4, bà H4; chú ruột là cụ Mạc Văn N2; dì ruột là cụ Nguyễn Thị T3. Cụ K1, cụ N2 và cụ T3 hiện đều đã chết. Việc anh em trong gia đình phân chia diện tích đất của các cụ cho từng người không được lập thành văn bản.
Sau khi chia đất xong thì bà T đã nhận phần được chia. Bà T nói với các anh em trong gia đình, bà T không có nhu cầu sống ở quê và cũng đang khó khăn nên muốn chuyển nhượng để lấy tiền. Bà T nói nếu anh em trong nhà không mua thì sẽ chuyển nhượng cho người ngoài. Khi đó ông K không muốn đất hương hoả chuyển nhượng cho người ngoài, được sự động viên của anh em trong gia đình, ông K đã mua lại phần đất của vợ chồng ông C5, bà T được chia với giá tiền là 3.000.000 đồng từ tháng 5 năm 1991. Việc chuyển nhượng này hai bên chỉ thoả thuận miệng, nhưng có sự chứng kiến của anh em trong gia đình là vợ chồng ông C6, vợ chồng ông C4 và vợ chồng bà C1. Ông K đã giao tiền cho bà T làm 02 lần. Lần thứ nhất vào ngày 12/8/1991 âm lịch là ngày giỗ mẹ của ông K, có anh em làm chứng, số tiền ông K giao là 2.500.000 đồng. Lần 2 ông K giao 01 chỉ vàng tương đương với số tiền còn nợ lại. Vợ của ông K là bà H đi cùng bà Mạc Thị T4 sang Chợ Đ để trả cho bà T. Sau khi nhận chuyển nhượng của bà T, vợ chồng ông K đã xây tường xung quanh, làm công trình phụ, đóng thuế sử dụng đất cho Nhà nước. Đến năm 2003, ông K được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm phần diện tích đất ông K được phân chia, phần diện tích đất mua của bà T và phần diện tích đất mua của vợ chồng ông C3, bà L, tổng diện tích là 785m². Hiện tại gia đình ông K sinh sống tại chỗ khác, ông K cung tiến toàn bộ diện tích đất trên để làm nơi thờ tự cho gia đình và dòng họ Mạc. Giao cho anh trai trưởng là ông Mạc Xuân C6 quản lý. Nay bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông K phải trả diện tích đất 252m², tại thửa đất số 440, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T, thành phố Hải phòng, quan điểm của ông K và bà H không đồng ý, đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ủy ban nhân dân huyện T không có văn bản nêu ý kiến.
Với nội dung như trên, tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 170 của Luật Đất đai, tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Mạc Đình K và bà Bùi Thị H phải trả lại cho bà Nguyễn Thị T, anh Mạc Văn H1, anh Mạc Văn H2 diện tích đất 252m², tại thửa số 440, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/10/2024, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc buộc ông Mạc Đình K và bà Bùi Thị H phải trả lại cho bà T diện tích đất 252m², tại thửa đất số 440, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tại giai đoạn phúc thẩm, bà T không nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Bị đơn trình bày cụ N có hai vợ là cụ Hoàng Thị K1 và cụ Nguyễn Thị T1. Cụ K1 và cụ N không có con. Cụ N và cụ T5 có 06 người con như bà T đã trình bày. Hiện ông C4 và ông C3 đều đã chết. Bị đơn nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự cơ bản đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối với kháng cáo của nguyên đơn: Kháng cáo của bà T là không có căn cứ vì bà T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh diện tích đất 252m², tại thửa đất số 440, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 2 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Tranh chấp về yêu cầu bảo vệ quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu khởi kiện nên nguyên đơn có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự.
[3] Đơn kháng cáo của bà T trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp pháp, Toà án xem xét, giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.
[4.1] Về nguồn gốc thửa đất số 440, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng: Theo Sổ mục kê kiêm thống kê năm 1973 hiện lưu giữ tại Ủy ban nhân dân xã H thể hiện: Tại mảnh 21, thửa 73, dòng thứ 11 đứng tên chủ sử dụng ông Mạc Văn N, diện tích 1.202m² đã tách cho bà Hoàng Thị K1 400m², ông Mạc Văn K2 400m², ông Mặc Văn N3 402m², không có vị trí cụ thể. Năm 2003, Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chủ sử dụng đất hộ ông Mạc Đình K được quyền sử dụng diện tích đất 785m².
[4.2] Ủy ban nhân dân xã H cho biết: Việc phân chia diện tích đất là do gia đình ông K thực hiện, không qua Uỷ ban nhân dân xã. Việc các đương sự trình bày có việc chuyển nhượng đất giữa bà T với ông K, bà H, Ủy ban nhân dân xã H không nắm được vì các đương sự giao dịch không qua chính quyền địa phương. Năm 2010, Ủy ban nhân dân xã H có nhận được đơn của bà T yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tại thửa đất số 440, tờ bản đồ số 04, Uỷ ban xã đã tiến hành làm việc hai lần nhưng không có kết quả. Đến năm 2020, Ủy ban nhân dân xã H lại nhận được đơn tranh chấp đất đai của bà T, Uỷ ban xã tiến hành hoà giải nhưng không thành.
[4.3] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 960865, số vào sổ cấp GCN: 00226QSDĐ/HP-TN-HT do Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 03/6/2003 thì người đứng tên sử dụng đất là hộ ông Mạc Đình K được quyền sử dụng 785m², trong đó 200m² đất ở, 585m² đất vườn, tại thửa số 440, tờ bản đồ số 04.
[5] Những người con của cụ N3 và cụ T5 bao gồm bà Mạc Thị C1, ông Mạc Văn C, bà Phạm Thị H4 vợ của ông Mạc Văn C4 (đã chết năm 2002), bà Đoàn Thị L là vợ của ông Mạc Văn C3 (chết năm 2013) đều xác nhận trong gia đình đã có sự phân chia đất cho 05 người con trai vào năm 1991, sau khi cụ N3 chết theo yêu cầu của bà T. Ngay sau khi được chia đất, bà T đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông K với giá 3.000.000 đồng. Vợ chồng ông K đã trả số tiền này cho bà T. Bà Đoàn Thị L (vợ của ông Mạc Văn C3) trình bày phần diện tích đất ông C3 được phân chia thì vợ chồng bà L đã chuyển nhượng cho ông K, bà H nên không còn quyền lợi gì liên quan đến thửa đất số 440, tờ bản đồ số 04 hiện vợ chồng ông K, bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[6] Theo Bản án số 09/2018/QĐDS-ST ngày 17/7/2018 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố ông Mạc Văn C2 (tên gọi khác Mạc Đình C5), sinh năm 1958, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở cuối cùng: Số G Cầu C, phường L, quận L, Hải Phòng là đã chết. Ngày chết của ông Mạc Văn C2 (tên gọi khác Mạc Đình C5) được tính từ ngày 08/11/1995. Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông C5 được giải quyết như đối với người đã chết; mọi tài sản của ông C5 được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
[7] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Bà T và ông Mạc Đình C5 có quan hệ vợ chồng và có hai người con chung là anh Mạc Văn H1 và anh Mạc Văn H2. Ông Mạc Đình C5 đã được Toà án tuyên bố là đã chết vào năm 1995. Nay bà T và các con chung của bà T cho rằng đã được anh em gia đình chồng phân chia diện tích đất 252m² tại thửa số 440, tờ bản đồ số 04 (nguồn gốc của bố mẹ chồng để lại) cho ông Mạc Đình C5. Ngoài diện tích đất được phân chia, vợ chồng bà T còn được giao cả phần diện tích đất 252m² trên đất có 01 ngôi nhà mái bằng của ông C3 được phân chia, do năm 1989, ông C5 lo thủ tục cho ông C3 đi nước ngoài và đưa cho ông C3 500 USD trước khi đi. Bà T xác nhận, sau khi phân chia đất thì đã có chuyển nhượng cho ông K, bà H phần diện tích đất của ông C3, còn phần diện tích đất của ông C5 thì bà T cho vợ chồng ông K mượn để sử dụng. Nay bà T có nhu cầu sử dụng phần diện tích này nên yêu cầu vợ chồng ông K phải trả. Vợ chồng ông K trình bày đã nhận chuyển nhượng của bà T phần diện tích đất ông C5 được phân chia với giá 3.000.000 đồng từ tháng 5 năm 1991. Ông C3 đã chết năm 2013, còn vợ của ông C3 là bà Đoàn Thị L trình bày: Sau khi được chia phần đất thì ông C3, bà L đã chuyển nhượng lại cho ông K, bà H, đã nhận đủ tiền, không có tranh chấp gì. Nguyên đơn, bị đơn, bà C1, ông C, vợ của ông C4, vợ của ông C3 đều xác nhận, ngay sau khi cụ N3 chết thì anh em trong gia đình đã cùng phân chia đất có nguồn gốc do các cụ để lại cho 05 người con trai của cụ N3 và cụ T1 nhưng không lập thành văn bản, không có sơ đồ xác định vị trí của từng người, không đo vẽ diện tích cụ thể mà chỉ phân chia áng chừng. Qua lời trình bày của các đương sự và các con của cụ N3 và cụ T1 có cơ sở để xác định có sự kiện các con của cụ N3 và cụ T1 đã phân chia đất và tài sản trên đất của các cụ để lại cho 05 người con trai là ông C, ông C5, ông K, ông C3 và ông C4; có sự việc bà T đã chuyển nhượng cho ông K, bà H phần đất đã được phân chia từ sự kiện này. Tuy nhiên, bà T cho rằng mới chỉ chuyển nhượng phần diện tích đất của ông C3 (do vợ chồng bà T đã đưa tiền và làm thủ tục cho ông C3 đi nước ngoài nên được sử dụng phần diện tích đất của ông C3 được phân chia), còn phần diện tích đất do ông C5 được phân chia thì chỉ cho vợ chồng ông K, bà H mượn để sử dụng. Tuy nhiên, bị đơn và những người làm chứng (là các anh chị em trong gia đình) không xác nhận điều này. Ngoài lời trình bày, bà T không có tài liệu gì khác chứng minh được phân chia diện tích đất bao nhiêu m², ở vị trí nào. Không xuất trình được tài liệu thể hiện có việc thoả thuận giữa vợ chồng bà T và ông C3 về việc vợ chồng bà T được quyền sử dụng hợp pháp phần diện tích đất ông C3 được phân chia. Phần diện tích đất của ông C3 được phân chia có diện tích là bao nhiêu m², ở vị trí nào thì bà T cũng không chứng minh được. Như vậy, bà T kiện đòi tài sản là quyền sử dụng diện tích đất 252m² tại thửa số 440, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được phân chia phần diện tích bao nhiêu m², nằm ở vị trí nào của thửa số 440, tờ bản đồ số 04 và quyền được sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích yêu cầu này. Trên thực tế, gia đình bà T cũng không sử dụng diện tích đất được phân chia. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T theo quy định của Điều 165, Điều 166 của Bộ luật Dân sự. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà T, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[9.1] Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà T theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[9.2] Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 165, 166 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc: Buộc ông Mạc Đình K và bà Bùi Thị H phải trả cho bà Nguyễn T và hai con là anh Mạc Văn H1 và anh Mạc Văn H2 diện tích đất 252m², tại thửa đất số 440, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T (nay là xã Q, thành phố T, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T.
3.2. Các đương sự khác trong vụ án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị T.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Phương |
Bản án số 18/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 18/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thuỷ - Mạc Đình Kiệm
