trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS-PT

Ngày 12-4-2024

V/v đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành

Các Thẩm phán: - Ông Vũ Duy Luân

- Ông Ngô Thế Tương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 về việc: “đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/QĐ-PT ngày 28/02/2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty TNHH M.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trần P - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hoàng Đức T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số E, C, huyện G, thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1)

Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Thanh X - Chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ: Tầng G Tòa nhà N H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Như H, sinh năm 1980

Địa chỉ: P, HH01A, KĐT T, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội.

* Người kháng cáo: Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1).

(Có mặt ông T, ông H; Ông P, bà X vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn - Đại diện công ty TNHH M trình bày: Ngày 17/9/2018, Công ty TNHH M2 (gọi tắt là Công ty M) và Công ty TNHH S (gọi tắt là Công ty S1) ký kết hợp đồng gia công hàng may mặc xuất khẩu với nội dung: Công ty M2 nhận gia công hàng may mặc xuất khẩu (mã hàng AW18WJW001) cho Công ty S1 với số lượng 10.000 sản phẩm, đơn giá là 9 USD/01 sản phẩm, tổng thành tiền là 90.000 USD, ngày giao hàng 20/10/2018. Tại Điều 6 của hợp đồng có ghi bên nhận gia công phải chuyển cho bên giao gia công hóa đơn GTGT, biên bản quyết toán nguyên phụ liệu, phiếu xuất kho có chữ ký của thủ kho, thời hạn thanh toán bên giao gia công có trách nhiệm thanh toán tiền gia công cho bên gia công trong vòng 15 ngày sau khi giao hàng. Công ty M2 đã thực hiện xong các công việc theo hợp đồng, theo biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018 của Công ty S1 gửi cho Công ty M2 với nội dung: Công ty S1 xác nhận còn nợ Công ty M2 số tiền 2.390.815.648 đồng, cam kết trả 1.258.200.200 đồng vào ngày 14/11/2018, số tiền còn lại là 1.132.615.648 đồng sẽ trả vào ngày 16/11/2018. Ngày 04/5/2019, Công ty S1 có thông báo về việc đồng ý cho Công ty M2 bán 2.500 pcs mã hàng AW18WJW001 với giá 290.000 đồng/set thành tiền là 725.000.000 đồng. Tính đến ngày 04/5/2019, Công ty S1 còn nợ 1.665.815.648 đồng tiền gốc và tiền lãi được tính như sau: ngày giao hàng cuối cùng là 12/11/2018, ngày phải thanh toán cuối cùng theo biên bản xác nhận công nợ là 14/11/2018: từ ngày 14/11/2018 đến ngày 02/4/2019 là 2 tháng 20 ngày với lãi suất 1,5%/tháng, 0,05%/ngày: 2.390.815.648 x 0,05% x 80 ngày = 95.623.000 đồng. Từ ngày 03/4/2019 đến ngày 03/01/2022 là 33 tháng tương đương 990 ngày: 1.665.815.648 đồng x 0,05% x 990 ngày = 824.578.722 đồng.

Công ty M2 đã nhiều lần yêu cầu Công ty S1 trả số tiền gia công hàng hóa nhưng Công ty S1 không trả. Nay Công ty M2 đề nghị Tòa án buộc Công ty S1 trả tiền tổng số tiền gốc và lãi là: 1.665.815.648 đồng + 95.623.000 đồng + 824.578.722 đồng = 2.586.018.010 đồng.

* Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của bị đơn bà Vũ Thị Thanh X trình bày: Công ty S1 và Công ty M2 không ký kết hợp đồng gia công số 01/2018 SY-VINA ngày 17/9/2018 như Công ty M2 đã giao nộp cho Tòa án, chữ ký trong hợp đồng và Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018 là giả mạo không phải chữ ký của bà, còn chữ ký trong Thông báo về việc đồng ý cho Công ty M2 bán 2.500pcs là chữ ký của bà. Lý do, công ty S1 nhận hợp đồng gia công cho công ty A có trụ sở tại Hàn Quốc, do không đảm bảo tiến độ nên công ty A1 có cử ông Lee Gui N đàm phán với công ty M2 để gia công. Sau khi người đại diện của công ty A là ông Lee Gui N và ông Nguyễn Trần P - công ty M2 đã tự thỏa thuận và thống nhất với nhau về đơn giá, số lượng, thời gian giao hàng thì công ty A chỉ định cho công ty S1 chuyển giao nguyên phụ liệu cho công ty M2. Sau khi hoàn thành, do hàng của công ty M2 không đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của công ty A nên công ty không thanh toán. Do vậy ngày 04/5/2019, Công ty S1 ký thông báo đồng ý cho Công ty M2 bán 2500set quần áo với giá 290.000 đồng/set theo chỉ định của Công ty A nên trong thông báo này có chữ ký của ông Lee Gui N, việc chỉ định này được chứng minh qua các gmail trao đổi giữa ông Lee Gui N và công ty bà, các báo cáo sản xuất hàng ngày công ty M2 gửi cho ông L. Chữ ký người nhận hàng ở trong các phiếu xuất kho là người của Công ty S1 vì trước khi xuất hàng, hàng của Công ty M2 được tập kết và đóng ghép cùng hàng của Công ty S1 theo số lượng và quy cách đóng gói của Công ty A chỉ định trong đó có một phiếu xuất kho đề ngày 29/10/2018 người nhận hàng chính là người của công ty A. Sau đó bà X cho rằng có một số chữ ký trong phiếu xuất kho không phải là người của công ty bà nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh. Bị đơn không cung cấp được địa chỉ của công ty A, địa chỉ của ông Jhu By K trong phiếu xuất kho ngày 29/10/2018; đối với ông Lee Gui N bị đơn cung cấp địa chỉ hiện nay đang ở 2 đường N, ấp P, xã P, huyện C, TP Hồ Chí Minh, việc ủy thác lấy lời khai cần chi phí tố tụng cho người phiên dịch, tuy nhiên bị đơn không yêu cầu lấy lời khai cũng không nộp chi phí tố tụng do vậy Tòa án không tiến hành được. Bà X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà khẳng định nghĩa vụ thanh toán số tiền gia công nguyên đơn đang yêu cầu là của công ty A.

- Ngày 15/02/2022, bà X có đơn yêu cầu giám định chữ ký của bà trong Hợp đồng gia công và Biên bản xác nhận công nợ. Ngày 21/02/2022, Tòa án trưng cầu Phòng K1 công an tỉnh T giám định đối với chữ ký của bà Vũ Thị Thanh X trong Hợp đồng gia công hàng may mặc xuất khẩu số 01/2018 SY- VINA ngày 17/09/2018 (ký hiệu A2) và trong Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018 (ký hiệu A1).

* Tại Kết luận giám định số 34/KL- KTHS ngày 06/5/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận: “không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Giám đốc Vũ Thị Thanh X trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký của Vũ Thị Thanh X trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M14 có phải do cùng một người ký ra hay không. Chữ ký mang tên Giám đốc Vũ Thị Thanh X trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” và chữ ký phía cuối các trang) so với chữ ký của Vũ Thị Thanh X trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M14 do cùng một người ký ra”.

- Bị đơn không có ý kiến gì đối với kết luận trên, nguyên đơn đề nghị giám định lại đối với chữ ký của bà Vũ Thị Thanh X trong Biên bản xác nhận công nợ và giám định bổ sung đối với mẫu hình dấu của CÔNG TY TNHH S2. Ngày 14/6/2022, Tòa án trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C1 giám định lại chữ ký dưới mục Giám đốc công ty trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và giám định bổ sung mẫu hình dấu CÔNG TY T.N.H.H SO YOUNG FASHION trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2.

* Tại Kết luận giám định số 182/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của V - Bộ C1 ghi: “người có mẫu chữ ký mang tên Vũ Thị Thanh X trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M15 không ký ra chữ ký đứng tên Vũ Thị Thanh X dưới mục “Giám đốc công ty” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1. Chữ ký đứng tên Vũ Thị Thanh X dưới mục “Giám đốc công ty” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 là hình dấu chữ ký. Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY TNHH SOYOUNGFASHION” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 và trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M10, M13, M14 do con dấu mẫu so sánh có cùng nội dung ký hiệu M16 đóng ra”. Các đương sự không có ý kiến gì về bản kết luận giám định này, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày 29/9/2022, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

* Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2022/QĐST-KDTM ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương đã quyết định:

  1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 02/2021/TLST- KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng gia công” giữa nguyên đơn là Công ty TNHH M2 với bị đơn là Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1).
  2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo cho công ty TNHH M2. Công ty TNHH M2 không có quyền khởi kiện lại vụ án. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo Quyết định. Ngày 01/10/2022, nguyên đơn có đơn kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2022/QĐST-KDTM ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương.

* Tại Quyết định giải quyết việc kháng cáo số 01/2022/QĐ-PT ngày 19/12/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình quyết định:

  1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2022/QĐST-KDTM ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương để tiếp tục giải quyết.
  2. Công ty TNHH M2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại Công ty TNHH M2 300.000 đồng tạm ứng án phí.

Bản án số 06/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

- Căn cứ Điều 155, Khoản 1 Điều 221 Bộ luật dân sự; Điều 147, 160, 161, Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1) trả cho Công ty TNHH M2 số tiền gia công hàng hóa còn nợ là 1.665.815.648 đồng.
  2. Về chi phí giám định: Công ty TNHH M2 phải chịu 5.000.000 (năm triệu) đồng chi phí giám định (đã nộp xong). Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1) phải chịu 5.850.000 (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng chi phí giám định (đã nộp xong).
  3. Về án phí: Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1) phải chịu 61. 974.469 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Công ty TNHH M2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Công ty TNHH M2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 31.000.000 (ba mươi mốt triệu) đồng theo biên lai thu số 0001526 ngày 27/12/2021 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định nghĩa vụ thi hành án, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/8/2023, bị đơn Công ty TNHH S (Nay là Công ty TNHH M1) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

* Tại phiên tòa đại diện Công ty TNHH S (Nay là Công ty TNHH M1) vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày nội dung hợp đồng gia công ngày 17/9/2018 không có sự hợp tác, trao đổi, các tài liệu như Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018 không chứng minh được bà X đã ký và các phiếu xuất kho không thể hiện được ở kho nào, ai là người ký.

* Tại phiên tòa đại diện Công ty TNHH M2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Quá trình thực hiện tố tụng của Hội đồng xét xử, các đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH S (Nay là Công ty TNHH M1). Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng: Đại diện theo pháp luật của nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt nhưng có văn bản ủy quyền cho ông Hoàng Đức T và ông Nguyễn Như H tham gia phiên tòa. Căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn thấy:

  1. Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ khoản tiền gia công hàng may mặc xuất khẩu là 2.577.849.715 đồng trong đó nợ gốc là 1.665.815.648 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 912.034.067 đồng theo Hợp đồng gia công hàng hóa ngày 17/9/2018 và Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu vì cho rằng tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm (04/5/2019) đến ngày khởi kiện 02/12/2021 đã quá thời hạn 02 năm và bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu theo quy định tại Điều 319 Luật thương mại. Tính từ ngày bị đơn có văn bản đồng ý cho nguyên đơn bán 2500 sét ngày 04/5/2019 để đối trừ một phần nghĩa vụ trả nợ đến ngày nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án ngày 01/12/2021 là đã hết thời hiệu khởi kiện 02 năm theo Điều 319 Luật thương mại đối với khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Ngày 12/11/2018, bị đơn xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 2.390.815.648 đồng, cam kết trả 1.258.200.200 đồng vào ngày 14/11/2018, số tiền còn lại là 1.132.615.648 đồng sẽ trả vào ngày 16/11/2018. Sau khi ký kết biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018, giữa hai công ty không ký tiếp Hợp đồng gia công nào khác do đó Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018 được coi là Biên bản thanh lý hợp đồng gia công hàng hóa ngày 17/9/2018. Sau khi thanh lý hợp đồng ngày 12/11/2018 thì ngày 04/5/2019, bị đơn đã trả tiếp số tiền 725.000.000 đồng cho nguyên đơn do đó số tiền mà bị đơn còn nợ nguyên đơn là 1.665.815.648 đồng. Đây là số tiền công thực tế mà nguyên đơn đã bỏ ra để thực hiện việc gia công hàng hóa cho bị đơn, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 221 Bộ luật dân sự nên bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "đòi tài sản" do đó không áp dụng thời hiệu theo quy định tại Điều 155 Bộ luật dân sự là có căn cứ.
  2. Ngày 17/9/2018, Công ty M2 và Công ty S1 ký kết hợp đồng gia công hàng may mặc xuất khẩu với nội dung: Công ty M2 nhận gia công hàng may mặc xuất khẩu (mã hàng AW18WJW001) cho Công ty S1 với số lượng 10.000 sản phẩm, đơn giá là 9 USD/01 sản phẩm, tổng thành tiền là 90.000 USD, ngày giao hàng là ngày 20/10/2018. Tại Điều 6 của hợp đồng có ghi bên nhận gia công phải chuyển cho bên giao gia công hóa đơn GTGT, biên bản quyết toán nguyên phụ liệu, phiếu xuất kho có chữ ký của thủ kho, thời hạn thanh toán bên giao gia công có trách nhiệm thanh toán tiền gia công cho bên gia công trong vòng 15 ngày sau khi giao hàng. Bị đơn không thừa nhận đã ký hợp đồng gia công với nguyên đơn nhưng tại phiên tòa sơ thẩm lại thừa nhận Hợp đồng gia công đã ký với nguyên đơn chỉ là cơ sở để hợp thức hóa với cơ quan hải quan, không thừa nhận chữ ký trong Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018 và cho rằng một số phiếu xuất kho không phải chữ ký của Công ty S1 nhưng bị đơn không đưa ra được căn cứ chứng minh. Do đó, căn cứ vào lời khai tại phiên tòa của bị đơn, Kết luận giám định số 34/KL-KTHS ngày 06/5/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh T, Kết luận giám định số 182/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của V - Bộ C1 và Biên bản lấy lời khai ngày 13/01/2022 (bà X khẳng định chữ ký dưới mục người nhận hàng trong các phiếu xuất kho đều là người của công ty bà vì mỗi lần xuất hàng cho Công ty A, hàng của Công ty M2 sẽ vận chuyển sang công ty bà tập kết và đóng ghép cùng hàng của Công ty S1) có đủ cơ sở kết luận Công ty S1 và Công ty M2 có ký kết hợp đồng gia công ngày 17/9/2018, có thực hiện hợp đồng gia công theo nội dung đã ký kết.
  3. Bị đơn cho rằng Công ty S1 chỉ có nghĩa vụ chuyển nguyên phụ liệu theo chỉ định của công ty A tại Hàn Quốc, không có nghĩa vụ thanh toán. Công ty S1 không cung cấp được địa chỉ của công ty A và nộp các tài liệu dịch thuật trao đổi qua gmail giữa Công ty S1 với người có tên Lee Guy N1, giữa địa chỉ gmail vinap phuong - phuong vinap804@gmail.com gửi ông C. Tuy nhiên các chứng cứ này đều không phải là chứng cứ gốc và cũng không xuất trình được nguồn của chứng cứ. Do vậy, bị đơn không có căn cứ chứng minh mối liên quan giữa việc chỉ định của Công ty A2 với hợp đồng gia công Công ty S1 và Công ty M2 đã ký kết.
  4. Ngày 12/11/2018, hai bên ký biên bản xác nhận công nợ, theo đó Công ty S1 xác nhận còn nợ Công ty M2 số tiền 2.390.815.648 đồng, cam kết trả 1.258.200.200 đồng vào ngày 14/11/2018, số tiền còn lại là 1.132.615.648 đồng sẽ trả vào ngày 16/11/2018. Tuy nhiên Công ty S1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như cam kết. Ngày 04/5/2019, Công ty S1 có thông báo về việc đồng ý cho Công ty M2 bán 2.500 pcs mã hàng AW18WJW001 với giá 290.000 đồng/set thành tiền là 725.000.000 đồng để trừ vào tiền nợ gốc. Căn cứ Kết luận giám định số 182/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của V - Bộ C1 kết luận: "người có mẫu chữ ký mang tên Vũ Thị Thanh X trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M15 không ký ra chữ ký đứng tên Vũ Thị Thanh X dưới mục " Giám đốc công ty" trên mẫu cần giám định ký hiệu A1. Chữ ký đứng tên Vũ Thị Thanh X dưới mục " Giám đốc công ty" trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 là hình dấu chữ ký. Hình dấu tròn có nội dung "CÔNG TY T.N.H.H SOYOUNGFASHION" trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 và trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M10, M13, M14 do con dấu mẫu so sánh có cùng nội dung ký hiệu M16 đóng ra". Tại biên bản ghi lời khai ngày 25/8/2022 và tại phiên tòa sơ thẩm, bà X trình bày bộ phận văn phòng công ty Q của công ty. Theo quy định tại Điều 44 Luật doanh nghiệp và Điều 13, Điều 15 của Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 15/10/2015 của Chính Phủ hướng dẫn một số điều của Luật doanh nghiệp thì mỗi doanh nghiệp có mẫu con dấu thống nhất về nội dung, hình thức và kích thước. Việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu được quy định tại Điều lệ Công ty S1 phải có trách nhiệm đối với nội dung Biên bản đã được đóng dấu của Công ty. Do vậy, bản án sơ thẩm căn cứ biên bản xác nhận công nợ ngày 12/11/2018 để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
  5. Ngày 04/5/2019, Công ty S1 có thông báo về việc đồng ý cho Công ty M2 bán 2.500 pcs mã hàng AW18WJW001 với giá 290.000 đồng/set thành tiền là 725.000.000 đồng để trừ vào tiền nợ gốc. Như vậy Công ty S1 còn nợ Công ty M2 1.665.815.648 đồng tiền gia công hàng hóa nên Công ty M2 khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền gia công hàng hóa số tiền 1.665.815.648 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại 1 Điều 221 Bộ luật dân sự. Do đó, bản án sơ thẩm buộc Công ty S1 phải trả cho Công ty M2 số tiền gia công hàng hóa còn nợ là 1.665.815.648 đồng là có căn cứ. Việc bị đơn cho rằng hợp đồng gia công đã ký với nguyên đơn chỉ là cơ sở để hợp thức hóa với cơ quan hải quan, bị đơn chỉ có nghĩa vụ chuyển nguyên phụ liệu cho nguyên đơn theo chỉ định của công ty A3 tại Hàn Quốc nên nghĩa vụ thanh toán tiền gia công hàng hóa may mặc xuất khẩu là của công ty A4 là không có căn cứ để chấp nhận.
  6. Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1), cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
  7. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1) không được chấp nhận nên Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1) phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1); Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
  3. Về án phí: áp dụng khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1) phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng Công ty TNHH S (nay là Công ty TNHH M1) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001965 ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí dân sự phúc thẩm

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 12/4/2024.

Nơi nhân:

  • -VKSND tỉnh Thái Bình;
  • -TA, VKS, THADS h. Kiến Xương;
  • -Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu HC-TP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/DS-PT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về đòi tài sản

  • Số bản án: 18/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger